0848 608 608

Phục vụ 24/7

Taxi Toàn Quốc

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng “thân ngô, hang đá” tạo kỳ tích dưới mưa bom

Chia Sẻ Bài Viết


Lời tòa soạn: Trong những năm tháng chiến tranh, khi đất nước bị bủa vây bởi bom đạn, thiếu thốn và những thử thách ngặt nghèo nhất, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã chọn dấn thân, đặt kiến thức, tài năng và trách nhiệm của mình vào công cuộc giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc.

Tuyến bài “Kỳ tích Việt Nam” của báo Dân trí kể lại hành trình trí tuệ Việt Nam được thử thách trong khói lửa chiến tranh, từ đó làm nên những dấu mốc không thể quên trong lịch sử dân tộc.

Qua từng nhân vật, từng công trình, chúng tôi mong muốn khắc họa một giai đoạn mà khoa học không chỉ là tri thức, mà còn là một phần của lịch sử đấu tranh và kiến thiết đất nước.

Theo Bảo tàng Di sản Các nhà khoa học Việt Nam, trong những năm 1970-1974, BS Lê Sỹ Toàn và đồng nghiệp đã tổ chức xây dựng, duy trì hoạt động của bệnh viện dã chiến nằm trong các hang đá, thuộc Quân Y viện 139, đóng ở Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, Lào. Đây là một nơi có vị trí địa chính trị và quân sự quan trọng ở Đông Dương.

Bệnh viện có nhiều khoa phòng, trong đó có một số phòng mổ.

Lúc đầu bệnh viện nằm trong 3 hang đá lớn với sức thu dung và điều trị 400-500 thương bệnh binh, sau đó được mở rộng ra nhiều hang nhỏ, có lúc thu dung lên tới hơn 1.000 thương bệnh binh.

Chỉ tồn tại trong mấy năm nhưng bệnh viện đã có đóng góp quan trọng vào việc điều trị, cứu chữa thương bệnh binh, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến thống nhất đất nước.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 2

Tại Bảo tàng Di sản Các nhà khoa học Việt Nam có phục dựng lại mô hình phòng mổ trong hang đá. Đáng chú ý, nhiều vật dụng là kỷ vật sử dụng thực tế trong thời chiến được chính các nhà khoa học quyên tặng.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 3
Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 4

Thông qua phòng mổ trong hang đá được phục dựng, chúng ta có thể cảm nhận được phần nào trí tuệ, bản lĩnh và sức sáng tạo phi thường của đội ngũ thầy thuốc Việt Nam, những con người đã làm nên kỳ tích y học bằng đôi bàn tay và khối óc không chịu khuất phục trước hoàn cảnh.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 5

Giữa chiến khu, các “blouse trắng” đã tận dụng cáng tre làm giường, nước dừa làm huyết thanh.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 6

Ngoài ra, chiếc xe đạp có gắn đèn dinamo trở thành đèn phẫu thuật. Lúc ca mổ được tiến hành sẽ có một người nhận nhiệm vụ đảm bảo dinamo luôn quay để giữ nguồn sáng duy nhất cho các ca phẫu thuật giữ sinh mệnh thương binh.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 7

Găng tay bảo hộ và dao mổ được PGS.TS Phạm Văn Phúc sử dụng trong chiến dịch Biên giới năm 1950.

Tham gia kháng chiến từ sớm, PGS.TS Phạm Văn Phúc cùng đội điều trị Đại đoàn 316 hành quân qua các chiến dịch lớn như Tây Bắc, Điện Biên.

Cuối năm 1953, đội đóng quân tại Lang Chánh, rồi tiến quân lên Tây Bắc. Phòng mổ dã chiến khi ấy chỉ là một lán tre lợp gianh, bàn mổ làm bằng tre, nước rửa tay là xà phòng với dung dịch sát khuẩn tự pha. Thuốc mê hạn chế, kháng sinh gần như không có. Ca mổ nào cũng là một cuộc đấu trí và đấu lực.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 8

Thương binh đưa về ngày càng nhiều. Những trận đánh lớn như: Him Lam, đồi C1, A1 khiến đội y tế phải làm việc liên tục. Có ngày bác sĩ Phúc đang sốt vẫn phải đứng mổ. Có đêm, ánh sáng bỗng mờ đi giữa ca phẫu thuật, thì ra người quay dinamo mỏi quá ngủ gật.

PGS.TS Phạm Văn Phúc luôn tâm niệm: mỗi ca mổ là một sinh mệnh được giành lại, mỗi thương binh là một phần xương máu của Tổ quốc, và bàn tay người bác sĩ là để nâng niu, giữ gìn điều quý giá ấy.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 9

Xoong dùng nấu nước thân cây ngô và chai nuôi nấm kháng sinh là 2 kỷ vật gắn liền với “nước lọc Penicillin” đã cứu sống hàng vạn chiến sĩ của GS Đặng Văn Ngữ.

Theo PGS.TS Phạm Văn Thân – Nguyên Trưởng Bộ môn Ký sinh trùng, Đại học Y Hà Nội, GS Đặng Văn Ngữ đã lập ngay Labo nghiên cứu vi trùng – vi nấm ở chiến khu. Chính trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn ấy, những ống kháng sinh đầu tiên đã được bào chế thành công.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 10

Như sau này GS Đặng Văn Ngữ viết: “Chúng tôi không ngồi đợi có đầy đủ phương tiện mới nghiên cứu. Không có bàn, chúng tôi bầy mễ làm việc. Cân chính xác thiếu, chúng tôi đo bằng lối so thể tích. Ống tre thay cho eprouvette, đĩa là boite de Pétri, cylinder chỉ là những ống sậy. Cứ như thế, chúng tôi cọc cạch làm việc cho tới khi phi cơ oanh tạc Cát Văn.

Phòng thí nghiệm không còn điện đàng hoàng như trước nữa. Mỗi lúc muốn làm bột Penicillin chúng tôi phải bê dụng cụ đến tận Cát Văn và chính trong những khó khăn chật vật như thế, ba lọ Penicillin bột đã ra đời, mỗi lọ chừng hai vạn đơn vị”.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 11

Sau đó ông đã tìm ra được một thứ nước nuôi nấm rất tốt và rẻ tiền là nước thân ngô. Đúng hơn, nguyên liệu đó tìm đâu cũng thấy và hoàn toàn không mất tiền mua. 

Từ năm 1951 trở đi, “nước lọc Penicillin” đã hiện diện ở hầu khắp các mặt trận lớn nhỏ. Mỗi khi bộ đội mở chiến dịch, một tổ Penicillin lưu động lại lên đường theo ra tiền tuyến, dựng lán trại ngay gần nơi chiến sự để kịp thời cung ứng kháng sinh cho thương binh.

“Chính loại kháng sinh được ra đời giữa rừng núi, trong điều kiện nghiên cứu hết sức thô sơ này đã góp phần đắc lực cho công cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi. Nhờ “nước lọc Penicillin” mà 80% thương binh có thể trở về đơn vị chiến đấu không bị cưa chân tay”, PGS Phạm Văn Thân nhấn mạnh.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 12

Các cuốn sổ ghi chép về gan của GS Tôn Thất Tùng. Ông đã phẫu tích hơn 200 lá gan người chết, vẽ lại sơ đồ rồi đối chiếu với nhau để tìm ra những nét chung. Đây là tiền đề cho phương pháp mổ gan khô vang danh thế giới của cây đại thụ y khoa Việt Nam.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 13
Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 14

Giữa lúc ác liệt nhất của cuộc kháng chiến, ngày 23/3/1954, bác sĩ Tôn Thất Tùng và bác sĩ Vũ Đình Tụng nhận được giấy báo từ Bộ Quốc phòng, cử lên tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong cuốn nhật ký cá nhân, ông ghi rõ: “Được giấy của anh Bày báo B (Bộ – BT) cử cụ Tụng và mình vào một phái đoàn đi thăm mặt trận Điện Biên Phủ và tham gia trực tiếp vào công việc mổ xẻ. Được thơ độ 11g sáng, thảo luận cùng anh Quang để trưa mai đi ngay”.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 15

Tại chiến trường Điện Biên, mỗi ngày đều là cuộc chiến khốc liệt của bác sĩ và bệnh nhân. Trong căn hầm mổ nhỏ dựng tạm giữa rừng, điều kiện làm việc cực kỳ thiếu thốn: thiếu thuốc, thiếu thiết bị, thiếu ánh sáng. Nhưng với bàn tay tài hoa và kinh nghiệm ngoại khoa dày dạn, ông vẫn miệt mài bên bàn mổ, góp phần cứu sống hàng trăm thương binh.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 16

Khó khăn không chỉ đến từ bom đạn mà còn từ chính thiên nhiên khắc nghiệt. Sau mỗi trận mưa, hầm hào bộ đội ngập bùn. Thương binh nằm trong điều kiện vệ sinh kém, ruồi vàng đậu kín, gây nhiễm trùng nặng, sinh ra dòi bọ ở các vết thương phần mềm. Nhiều thương binh đau đớn vật vã, không thể cầm cự.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 17

Trước tình hình đó, GS Tôn Thất Tùng suy nghĩ nhiều ngày đêm, cuối cùng đưa ra một giải pháp bất ngờ: dùng quinacrin (thuốc sốt rét) pha loãng 1% để rửa vết thương có giòi. Kết quả thật rõ rệt: các vết thương trở nên sạch sẽ, giảm nhiễm trùng, bệnh nhân nhẹ đau và hồi phục nhanh.

Giải pháp này nhanh chóng được nhân rộng cho toàn lực lượng quân y mặt trận, trở thành “phác đồ cấp cứu” hữu hiệu trong điều kiện đặc biệt.

Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 18
Ngả mũ trước cách bác sĩ dùng thân ngô, hang đá tạo kỳ tích dưới mưa bom - 19

Nhìn lại những kỷ vật còn lưu giữ, có thể thấy được sự thiếu thốn đến khắc nghiệt của một thời đạn bom.

Sau 60 ngày đêm quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, đầu năm 1947, Trung đoàn Thủ đô được lệnh rút ra vùng tự do để bảo toàn lực lượng. Hành trang của GS Trần Hữu Tước mang theo lúc này “vỏn vẹn 30kg đồ dùng cho chuyên khoa Tai – Mũi – Họng” cùng hai y tá giúp việc.

Không có dụng cụ y tế, ông cùng đồng nghiệp phải tự thiết kế và chỉ đạo chế tạo các dụng cụ đơn giản như búa để đục xương, kim phẫu thuật, đèn soi, kẹp, ống hút… từ các vật liệu có sẵn, thiếu lò hấp sát trùng, “phải lấy chõ đồ xôi hấp đi, hấp lại hai ba lần bông gạc để đảm bảo tinh khiết tối thiểu”.

Ảnh: Thành Đông

Video: Minh Nhật, Phạm Tiến



Nguồn