Vị giáo sư cứu hàng nghìn chiến sĩ Điện Biên, lập ngân hàng xương đầu tiên
“Kính gửi ông! Cháu là Diễm, là bệnh nhân của ông ở Hồng Ngự – Đồng Tháp đây. Ông còn nhớ cháu không ?…”
“Cô bé ! Nếu cô có ý định ra Hà Nội điều trị thì tôi hướng dẫn theo khả năng của cô… Về kinh tế, tôi có thể giúp đỡ cô phương tiện, dụng cụ mổ, về công sức, thời gian mổ, chăm sóc cho cô…”.
Đọc những dòng trao đổi thân tình ấy, ít ai nghĩ đó là thư từ giữa một bệnh nhân nghèo và một cây đại thụ của y học hiện đại Việt Nam.
Nhưng đó chỉ là một trong nhiều câu chuyện bình dị, xúc động mà GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân đã viết nên trong cuộc đời chữa bệnh cứu người vẻ vang và nhân văn của mình.

GS.TSKH, Đại tá Nguyễn Văn Nhân (1924-2013), nguyên Phó Viện trưởng Viện Quân y 108 (Nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), là chuyên gia hàng đầu về chấn thương chỉnh hình quân đội, người lập “Ngân hàng xương” đầu tiên ở Việt Nam và có nhiều sáng kiến trong việc áp dụng các kỹ thuật mới trong phẫu thuật xương.
Ông là “hiện tượng” hiếm thấy khi bảo vệ luận án Tiến sĩ khoa học ở tuổi 67.

Theo tư liệu tại Bảo tàng Di sản các nhà khoa học Việt Nam, GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân sinh ngày 12/8/1924 tại trong một gia đình ở ngõ Hội Vũ, phố Hàng Bông, Hà Nội.
Ông lớn lên ở khu phố cũ của đất kinh kỳ, trong một giai đoạn đất nước nhiều biến động. Con đường học hành của thế hệ ấy không bằng phẳng. Nhưng cũng chính từ môi trường đó, ở ông sớm hình thành một nếp sống chăm chỉ, kỷ luật và ham học.
Ông từng học tại trường Louis Pasteur, đỗ tú tài triết học, rồi bước vào Trường Đại học Y Hà Nội năm 1945, đúng vào thời điểm đất nước chuyển mình mạnh mẽ sau Cách mạng Tháng Tám.
Việc học của một sinh viên y lúc ấy không chỉ gói trong giảng đường. Nó diễn ra giữa hoàn cảnh thiếu thốn, chiến sự bủa vây và nhu cầu cứu chữa thương bệnh binh ngày một lớn.
Khi còn chưa hoàn thành khóa đào tạo bác sĩ, GS Nguyễn Văn Nhân đã sớm bước vào thực tế của một người thầy thuốc quân y.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Đội trưởng Đội điều trị 4 thuộc Đại đoàn 304. Ông đã trực tiếp mổ hàng nghìn chiến sĩ bị thương.
Trên mặt trận, ông khắc cốt ghi tâm một điều quan trọng: Người làm nghề y không thể chỉ giỏi lý thuyết. Họ phải biết ứng biến, biết chịu trách nhiệm và biết giữ sự tỉnh táo trong những lúc khó khăn nhất.
Năm 1955, ông được Nhà nước cử sang Liên Xô (cũ) học chuyên sâu về chấn thương chỉnh hình.
Đây là bước ngoặt lớn trong con đường học vấn của ông. Từ một bác sĩ quân y trưởng thành trong chiến tranh, ông có điều kiện tiếp cận nền y học hiện đại, bài bản, chuyên sâu hơn.
Điều đáng nói, ngay từ đầu, hướng nghiên cứu của ông đã gắn chặt với nhu cầu thực tế của Việt Nam, đặc biệt là việc điều trị những di chứng nặng nề về xương khớp sau chiến tranh.

Tại Liên Xô (cũ), ông nghiên cứu đề tài điều trị không liền xương, khớp giả và mất đoạn xương cẳng chân bằng phẫu thuật. Sau hai năm học tập, nghiên cứu nghiêm túc, tháng 1/1960, ông bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ tại Viện Chấn thương Chỉnh hình Trung ương Liên Xô (cũ).
Trong thời gian này, ông còn hoàn thiện mẫu dụng cụ nâng xương bảo vệ phần mềm dùng trong phẫu thuật kết xương ghép xương. Sáng kiến ấy sau đó được cơ quan có thẩm quyền của Liên Xô (cũ) công nhận và cấp bằng sáng chế.
Những gì ông học được không nằm yên trên trang giấy. Nó theo ông trở về nước, đi vào bệnh viện, vào phòng mổ, vào từng sáng kiến phục vụ người bệnh. Và có lẽ chính điều đó làm nên dáng vóc học thuật rất riêng của GS Nguyễn Văn Nhân.

GS Nguyễn Văn Nhân nhiều lần khẳng định, may mắn lớn trong cuộc đời ông là được tham gia công tác y tế trong kháng chiến, lại được tin tưởng cho đi học chuyên sâu, đó là vốn quý giá để ông cống hiến cho y học nước nhà.

Những năm đầu thập niên 1960, khi trở về nước sau thời gian học tập ở Liên Xô, GS Nguyễn Văn Nhân được giao phụ trách chuyên môn tại Khoa Chấn thương – Chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Thời điểm đó, bệnh viện tiếp nhận nhiều bệnh nhân mang di chứng nặng nề sau chiến tranh: xương gãy không liền, khớp giả, mất đoạn xương dài. Có người đi qua nhiều nơi nhưng vẫn không thể phục hồi chức năng. Nhu cầu ghép xương rất lớn, nhưng gần như không có nguồn xương thay thế.
Không giống như ghép da, xương không thể dễ dàng lấy từ chính cơ thể người bệnh để bù vào phần thiếu hụt. Mỗi ca bệnh vì thế thường dừng lại ở mức xử lý tạm thời, để lại di chứng lâu dài.
Trong bối cảnh đó, GS Nguyễn Văn Nhân bắt đầu tìm hướng đi chưa có tiền lệ tại Việt Nam.
Ông đề xuất lưu trữ xương người trong điều kiện lạnh sâu để dùng cho ghép sau này. Ý tưởng này ông đã từng tiếp cận trong thời gian học tập ở Liên Xô (cũ), nhưng đưa vào thực tế ở Việt Nam là một việc hoàn toàn khác. Khi ấy, cơ sở vật chất thiếu, điện lưới không ổn định, thiết bị gần như không có.
Khởi đầu của “ngân hàng xương” là một chiếc tủ lạnh vốn dùng để bảo quản thực phẩm cho bệnh nhân. Ông xin chuyển công năng chiếc tủ này để bảo quản xương ở nhiệt độ khoảng -25 độ C.
Nguồn xương được lấy từ các tử thi bộ đội không có người thân đến nhận, với điều kiện phải đảm bảo sức khỏe, không mắc bệnh truyền nhiễm. Việc lấy xương được thực hiện trong điều kiện vô trùng, ghi chép đầy đủ từng trường hợp. Sau đó, xương được bảo quản trong các chai, lọ và đưa vào tủ lạnh.
Từ năm 1962 đến 1968, “ngân hàng xương” này đã cung cấp hàng trăm mảnh ghép cho các ca phẫu thuật. Theo thống kê, có 264 miếng ghép được sử dụng cho 148 bệnh nhân, với phần lớn các ca tiến triển tốt.
Có những bệnh nhân trước đó gần như không còn khả năng đi lại đã phục hồi được chức năng vận động.
Tháng 8/1968 do điều kiện chiến tranh ngày càng ác liệt, nguồn điện bị cắt thường xuyên, không đảm bảo được việc lưu giữ nên “ngân hàng xương” phải ngừng hoạt động.
Cùng với “ngân hàng xương”, GS Nguyễn Văn Nhân còn tiếp tục hoàn thiện các bộ dụng cụ kết xương, cải tiến phương pháp phẫu thuật, áp dụng vào điều trị thực tế tại bệnh viện. Những công việc này diễn ra liên tục, gắn với từng ca bệnh cụ thể.
Phần lớn các nghiên cứu của ông không nằm trên giấy quá lâu. Làm xong là đưa vào sử dụng.
Những kết quả nghiên cứu của luận án được GS Nguyễn Văn Nhân ứng dụng tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, giải quyết những di chứng vết thương về xương ở thời bình.
Đồng thời, đây cũng là tiền đề để ông đề xuất các ý sáng tạo các dụng cụ Kết xương; Phương pháp Kết xương tạm thời…

Sáng chế cọc ép ren ngược chiều của GS Nhân đã được ứng dụng để giải quyết vấn đề về kéo dài chi, kết xương 2 ổ, điều chỉnh bàn chân thuổng, bàn chân khoèo…
“Điều đặc biệt, đáng khâm phục là GS Nguyễn Văn Nhân đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học với đề tài “Tái tạo ngón tay cái bị cụt bằng phẫu thuật “cái hóa” ngón tay dài” tại Học viện Quân y Kirov, Liên Xô (cũ) khi ông đã ở tuổi 67”, cán bộ Bảo tàng Di sản Các nhà khoa học Việt Nam nhấn mạnh.

Người dân ở nhiều tỉnh miền Trung vẫn nhớ hình ảnh một giáo sư tuổi đã cao nhưng tác phong vẫn nhanh nhẹn, chuẩn xác, đậm chất người lính. Từ Hà Nội, ông đến từng địa phương, đi sâu vào các thôn xóm, trực tiếp khám bệnh, tìm bệnh nhân và cân nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp cần can thiệp.
Trong hai năm 2001 và 2002, cùng các học trò, đồng nghiệp trẻ và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm công tác nhân đạo, ông đã khám cho hàng nghìn người, phẫu thuật cho gần 500 bệnh nhân.
Nhiều trẻ em mang di chứng chất độc hóa học, nhiều con em gia đình nhờ đó có cơ hội được chỉnh sửa những khiếm khuyết trên cơ thể với chi phí rất thấp.
GS Nguyễn Văn Nhân hiểu hơn ai hết rằng, chữa được một dị tật không chỉ là giúp người bệnh bớt đi mặc cảm hình hài. Với nhiều người, đó còn là cơ hội để đổi thay số phận, bắt đầu một cuộc sống khác và chạm tới hạnh phúc bình dị vốn từng rất xa vời.

Hơn 5.000 tư liệu, hiện vật của vị giáo sư đáng kính này hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Di sản các nhà khoa học Việt Nam. Đó là minh chứng của cả một đời làm nghề, làm khoa học và bền bỉ đi đến cùng với từng ca bệnh, từng đề tài nghiên cứu.
Trong khối tư liệu ấy có những bản thảo, công trình khoa học, ghi chép chuyên môn và cả những bệnh án ông theo dõi suốt hơn 30 năm. Mỗi tài liệu không chỉ cho thấy sự cẩn trọng của một nhà khoa học, mà còn phản chiếu cách ông sống với nghề, làm nghề và giữ nghề.
Nhìn vào di sản ấy, càng thấy rõ những đóng góp bền bỉ và thầm lặng của ông đối với nền y học nước nhà, trở thành tấm gương sáng, truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ y bác sĩ trên con đường học tập và nghiên cứu.
GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân đã được nhận các danh hiệu, phần thưởng cao quý như: Thầy thuốc Nhân dân; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Ba; Huy chương Lao động sáng tạo; Huy chương Vì thế hệ Trẻ; Huy chương Vì sự nghiệp Y tế Việt Nam; Huy chương Vì sự nghiệp Chữ thập đỏ.
