Lời Tòa soạn
Với cấp cứu ngoại viện, mỗi phút trôi qua có thể làm ngắn lại “thời gian vàng” cứu sống bệnh nhân. Trong khi đó, ở nhiều địa phương, mạng lưới cấp cứu vẫn tồn tại những “vùng trắng”, thiếu độ bao phủ đồng đều và thiếu sự kết nối hiệu quả từ hiện trường đến bệnh viện.
Nghị quyết 72 đặt mục tiêu xây dựng hệ thống cấp cứu ngoại viện hiện đại, đồng bộ, liên thông. Tuy nhiên, để chủ trương ấy đi vào thực tiễn vẫn cần những bước tổ chức quyết liệt hơn nhằm rút ngắn khoảng cách giữa người bệnh và dịch vụ cấp cứu.
Tuyến bài “Vá vùng trắng cấp cứu ngoại viện” đi thẳng vào những điểm nghẽn ấy, theo sát câu chuyện thực tiễn tại 2 đại đô thị lớn nhất cả nước là Hà Nội và TPHCM, tìm lời giải cho bài toán mở rộng mạng lưới cứu người nơi tuyến đầu sinh tử.
Tuyến đầu quyết định sống còn, nhưng lại là “mắt xích yếu nhất”
Liên quan đến thực tế áp lực và “vùng trắng” cấp cứu mà Dân trí đã ghi nhận thời gian qua, nhiều chuyên gia thẳng thắn nhận định, tại các đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay, cấp cứu ngoại viện – tuyến đầu quyết định khả năng sống còn của người bệnh – lại là mắt xích yếu nhất trong toàn bộ chuỗi chăm sóc sức khỏe.
Theo các báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phần lớn các nguyên nhân tử vong hàng đầu hiện nay thuộc nhóm bệnh lý phụ thuộc chặt chẽ vào thời gian tiếp cận y tế ban đầu như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, ngừng tim hay chấn thương nặng. Chỉ cần chậm trễ vài phút can thiệp ban đầu, cơ hội sống của người bệnh giảm đi đáng kể.
WHO chỉ ra, trung bình 70.000-100.000 dân cần được bảo đảm bởi một đơn vị cấp cứu cơ động, với thời gian tiếp cận hiện trường không quá 15-20 phút trong điều kiện đô thị. Tuy nhiên, tại nhiều thành phố lớn ở nước ta, khoảng cách giữa khuyến cáo này và năng lực đáp ứng thực tế còn rất lớn.
Xe cấp cứu di chuyển giữa dòng phương tiện đông đúc ở Hà Nội.
TS.BS Nguyễn Thành, Giám đốc Trung tâm Cấp cứu 115 Hà Nội cho biết, dù quy mô dân số xấp xỉ 10 triệu người, nhưng mạng lưới cấp cứu công lập của Hà Nội hiện chỉ có khoảng 30 xe cứu thương hoạt động thường xuyên.
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội có sự đan xen giữa khu vực nội đô mật độ cao, vùng ven và cả khu vực nông thôn, miền núi. Một số quận nội thành có mật độ dân cư vượt 40.000 người/km², trong khi thành phố đồng thời là trung tâm chính trị – xã hội với tần suất cao các sự kiện tập trung đông người.
Những yếu tố này khiến nhu cầu cấp cứu ngoại viện luôn ở mức cao, trong khi khả năng tiếp cận nhanh lại bị hạn chế bởi ùn tắc giao thông và khoảng cách địa lý.
Hiện nay, Trung tâm Cấp cứu 115 Hà Nội mới thành lập được 8/12 trạm cấp cứu khu vực theo quy hoạch, do thiếu nhân lực và trang thiết bị. Dù số điểm trạm đã tăng gấp 3 lần so với năm 2018, bản đồ cấp cứu ngoại viện của thủ đô vẫn còn nhiều “vùng trắng” chưa được bao phủ, nhất là các khu vực ven đô và ngoại thành.
Các chuyên gia nhận định, những khó khăn này không phải hiện tượng cá biệt ở Hà Nội mà là các điểm nghẽn mang tính hệ thống. Trước hết, là tình trạng thiếu hụt nhân lực chuyên trách cho cấp cứu ngoại viện.


Hệ thống cấp cứu ngoại viện ở Hà Nội hiện còn khó khăn trong vấn đề nhân lực và trang thiết bị.
Theo các báo cáo của Bộ Y tế, khoảng 80% nhân lực đang tham gia cấp cứu ngoại viện chưa được đào tạo và cấp chứng chỉ theo chuẩn cấp cứu tiền viện. Trong điều kiện đó, lực lượng bác sĩ và điều dưỡng bệnh viện buộc phải tham gia cấp cứu ngoài viện như một giải pháp thay thế tạm thời.
PGS.TS Đồng Văn Hệ, Phó Giám đốc Bệnh viện Việt Đức cho rằng, bên cạnh vấn đề nhân lực, khả năng điều phối và kết nối thông tin giữa ngoại viện và nội viện cũng là một hạn chế lớn.
Phần lớn các ca cấp cứu hiện nay vẫn được đưa tới bệnh viện trong tình trạng bị động, thiếu cơ chế báo trước và phối hợp hiệu quả. Điều này khiến các kíp chuyên môn không có đủ thời gian chuẩn bị nhân lực và phương án hồi sức phù hợp, làm giảm hiệu quả xử trí ngay khi người bệnh nhập viện.
Ngoài ra, mạng lưới điểm trạm cấp cứu chưa đủ gần dân, trong khi hành lang pháp lý và cơ chế tài chính cho cấp cứu ngoại viện vẫn chưa được thiết kế đồng bộ.
Giải pháp mở rộng mạng lưới cấp cứu từ hệ thống bệnh viện
Từ thực trạng trên, giới chuyên môn cho rằng Hà Nội không thể tiếp cận bài toán cấp cứu ngoại viện bằng các giải pháp tình thế hoặc đơn lẻ. Điều cần thiết là cách tiếp cận tổng thể, vừa giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt, vừa từng bước xây dựng nền móng cho một hệ thống bền vững.
Một trong những hướng đi nhận được nhiều sự đồng thuận là mở rộng mạng lưới tiếp cận người bệnh, thông qua việc lấy các bệnh viện làm điểm trạm cấp cứu ngoại viện.
TS.BS Nguyễn Công Hựu – Giám đốc Bệnh viện E phân tích, với cách làm này, 42 bệnh viện ở Hà Nội sẽ là 42 điểm trạm, tiếp cận nhanh nhất với người dân trong khu vực của mình, sau đó mới tổ chức vận chuyển tiếp.

Cấp cứu ngoại viện cần đảm bảo khả năng đáp ứng nhanh nhất.
Nguyên tắc điều phối là ưu tiên khoảng cách thay vì địa giới hành chính. Khi có cuộc gọi cấp cứu, kíp y tế ở gần người bệnh nhất sẽ được điều động, bất kể thuộc bệnh viện nào. Trong các tình huống nhiều nạn nhân, hệ thống sẽ tiếp tục điều phối các điểm trạm kế cận để bảo đảm khả năng đáp ứng nhanh nhất.
Trong bối cảnh giao thông đô thị thường xuyên ùn tắc, một giải pháp khác được đề xuất là thí điểm mô hình mô tô cấp cứu tại khu vực nội đô. Với ưu thế linh hoạt, phương tiện này có thể tiếp cận hiện trường nhanh hơn để thực hiện cấp cứu ban đầu, đặc biệt trong các ca ngừng tim hoặc chấn thương nặng. Sau đó, xe cứu thương sẽ tiếp nhận và vận chuyển người bệnh về bệnh viện.
Bên cạnh tổ chức mạng lưới, nhiều chuyên gia cho rằng cần thay đổi tư duy đầu tư trong cấp cứu ngoại viện, chuyển từ phụ thuộc chủ yếu vào sức người sang tăng cường ứng dụng thiết bị y tế hiện đại với ưu thế nhỏ gọn, ổn định và cho kết quả tốt hơn rất nhiều.
Cùng với đó, việc liên thông dữ liệu thiết bị cấp cứu với hệ thống bệnh án điện tử được xem là hướng đi quan trọng.
“Các thiết bị như máy thở, monitor hay siêu âm tại giường hoàn toàn có thể truyền dữ liệu sinh tồn về bệnh viện ngay trong quá trình vận chuyển. Khi đó, kíp điều trị có thể chuẩn bị sẵn phương án can thiệp, giúp quá trình tiếp nhận người bệnh diễn ra liên tục và hiệu quả hơn”, lãnh đạo bệnh viện tuyến cuối tại Hà Nội phân tích.
Ở góc độ chiến lược dài hạn, các chuyên gia cho rằng, để xây dựng hệ thống cấp cứu ngoại viện bền vững cần dựa trên 3 trụ cột, gồm: nhân lực chuyên trách, công nghệ dữ liệu và thể chế.
Trên thực tế, từ 1/1, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Sở Y tế Hà Nội, mạng lưới cấp cứu ngoại viện Hà Nội chính thức được tổ chức lại theo hướng mở rộng quy mô và thay đổi phương thức vận hành. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào Trung tâm 115, thành phố huy động đồng bộ các cơ sở y tế trên địa bàn tham gia trực cấp cứu ngoại viện.
Cụ thể, 42 bệnh viện thuộc ngành y tế Hà Nội, 2 bệnh viện tư nhân và 2 bệnh viện tuyến trung ương cùng tham gia mạng lưới. Tổng số điểm trực nâng lên 54, với 61 xe cứu thương thường trực.


Nhiều chuyên gia cho rằng, cần tăng cường ứng dụng thiết bị y tế hiện đại trong cấp cứu ngoại viện.
Đáng chú ý, không chỉ là sự gia tăng về số lượng, mà là cách bố trí lại mạng lưới theo hướng phủ kín địa bàn. Tại Hà Nội, Sơn Tây và Ba Vì đã có bệnh viện tại chỗ tham gia trực. Khu vực phía Nam có Vân Đình, Phú Xuyên, Thanh Oai, Mỹ Đức. Phía Bắc có Thăng Long và Bắc Thăng Long. Nội đô được tăng mật độ trực, giảm đáng kể khoảng cách di chuyển.
TS Thành nhận định: “Nếu không có sự chỉ đạo quyết liệt và sự tham gia của các bệnh viện thì riêng 115 không thể đáp ứng hết nhu cầu của người dân”.
Theo ông, mô hình mới thể hiện cách tiếp cận chia sẻ trách nhiệm giữa các cơ sở y tế, thay vì tập trung toàn bộ áp lực vào một đầu mối. Khi nhiều bệnh viện cùng tham gia, năng lực phản ứng được phân tán theo địa bàn, thời gian tiếp cận sẽ được cải thiện.
Số liệu bước đầu cho thấy chuyển biến tích cực. So với cùng kỳ năm 2025, tổng số yêu cầu cấp cứu ngoại viện tăng 76%.
Số chuyến cấp cứu do các bệnh viện thực hiện tăng từ 65 chuyến lên 218 chuyến, tương đương mức tăng hơn 200%. Điều này cho thấy khi mạng lưới được mở rộng, người dân sẵn sàng sử dụng dịch vụ nhiều hơn.

Ông Trần Anh Thắng, Phó giám đốc Trung tâm Cấp cứu 115 Hà Nội chia sẻ về thực trạng tổ chức cấp cứu ngoại viện ở địa phương (Ảnh: Khánh Vi).
Theo tính toán của Trung tâm Cấp cứu 115 Hà Nội, nếu toàn bộ mạng lưới hoạt động đồng bộ và ổn định, năng lực phục vụ có thể tăng 675% so với giai đoạn trước khi mở rộng. Số xe cứu thương tham gia từ các bệnh viện tăng 406%. Khi đó, thành phố có thể đáp ứng khoảng 100.000 chuyến cấp cứu ngoại viện mỗi năm, so với 40.000 chuyến hiện nay do 115 đảm nhiệm.
Tổ chức cấp cứu “đa tầng, đa cực” để không đứt gãy chuỗi liên hoàn
Trao đổi với phóng viên, Thầy thuốc nhân dân, PGS.TS.BS Nguyễn Anh Dũng, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM cho biết, trong bối cảnh thành phố vận hành hệ thống y tế của một siêu đô thị đặc biệt, đồng thời chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển hệ thống cấp cứu về mặt kỹ thuật mà còn phải đổi mới tư duy tiếp cận, lấy người dân làm trung tâm.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ngành Y tế TPHCM xác định cần phát triển một hệ thống cấp cứu thống nhất, liên thông, đa tầng và bao phủ toàn địa bàn, đủ năng lực đáp ứng nhanh, hiệu quả và công bằng trước mọi tình huống cấp cứu, phù hợp với quy mô dân số lớn và không gian phát triển mở rộng.
Thực tiễn cho thấy, TPHCM đang đối diện 3 thách thức mang tính cấu trúc: địa bàn rộng với mật độ dân cư rất cao và phân bố không đồng đều; nhu cầu chăm sóc sức khỏe gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ bao phủ; yêu cầu ngày càng cao về chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt trong cấp cứu – hồi sức và điều trị bệnh phức tạp.
Từ những thách thức đó, Sở Y tế TPHCM xác định cần chuyển mạnh về tư duy và mô hình tổ chức, phát triển hệ thống cấp cứu theo định hướng đa tầng – đa cực – đa trung tâm, phù hợp với quy mô dân số lớn, không gian phát triển mở rộng và đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng chăm sóc sức khỏe, nhằm bảo đảm người dân được cấp cứu kịp thời, an toàn và công bằng trong tình hình mới.

Bệnh nhân nhập viện cấp cứu lúc nửa đêm tại bệnh viện ở TPHCM.
Lãnh đạo Sở Y tế TPHCM phân tích, cấp cứu không chỉ bắt đầu khi xe cứu thương đến hiện trường hay khi người bệnh nhập viện mà là một chuỗi liên tục, trong đó mỗi tầng đều giữ vai trò quan trọng và gắn kết chặt chẽ với nhau.
Ở tầng cộng đồng, người dân và các lực lượng tại chỗ chính là “mắt xích đầu tiên”, có vai trò phát hiện sớm tình huống nguy kịch, gọi cấp cứu đúng cách, thực hiện sơ cứu ban đầu, hồi sinh tim phổi và sử dụng máy phá rung tự động (AED) khi cần thiết.
Ở tầng trạm y tế, trong mô hình tổ chức mới, trạm được tăng cường năng lực xử trí cấp cứu ban đầu, trở thành điểm gần dân nhất giúp ổn định người bệnh trước khi chuyển tuyến.
Tiếp đó, tầng bệnh viện đa khoa – bao gồm các bệnh viện khu vực và bệnh viện cửa ngõ – đảm nhận nhiệm vụ cấp cứu cơ bản, phân loại, xử trí ban đầu và phối hợp điều phối người bệnh phù hợp với mức độ bệnh.
Với tầng chuyên sâu, các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa tuyến cuối tiếp nhận và xử trí những trường hợp nặng, phức tạp như đột quỵ, tim mạch can thiệp, đa chấn thương và hồi sức tích cực.
Cách tiếp cận theo mô hình đa tầng giúp tối ưu “thời gian vàng”, giảm tải cho tuyến trên và nâng cao hiệu quả điều trị, đồng thời bảo đảm mọi người bệnh đều được tiếp cận và xử trí ở đúng tầng, đúng mức độ chuyên môn.

Ê-kíp bác sĩ thực hiện ca mổ cấp cứu nội soi viêm ruột thừa đầu tiên tại Bệnh viện Từ Dũ cơ sở 2 đặt ở Cần Giờ.
Bên cạnh đa tầng, đa cực là trụ cột quan trọng để bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ cấp cứu. Thay vì tập trung toàn bộ năng lực tại khu vực trung tâm, TPHCM chủ trương hình thành các “cực cấp cứu” tại những khu vực chiến lược, gắn với địa bàn đặc thù.
Mô hình bệnh viện đa khoa liên kết tại Cần Giờ đã phát huy hiệu quả rõ rệt khi tiếp nhận và phẫu thuật cấp cứu ngay tại chỗ các trường hợp chấn thương, cấp cứu sản phụ khoa, nội khoa nặng, cũng như nhiều chuyên khoa khác như mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt.
Thông qua Chương trình luân phiên bác sĩ chuyên khoa, Côn Đảo từng bước trở thành một “bệnh viện đảo” với năng lực ngày càng nâng cao. Nhiều trường hợp cấp cứu ngoại khoa, sản khoa, nhi khoa, đột quỵ đã được xử trí thành công ngay tại chỗ, trong điều kiện xa đất liền, góp phần bảo đảm an toàn tính mạng cho người dân và du khách.
Một nội dung quan trọng của mô hình đa cực là liên kết – hỗ trợ toàn diện về chuyên môn. Các bệnh viện cấp cơ bản được cấp chuyên sâu hỗ trợ thông qua đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn từ xa và kèm cặp trực tiếp.
Thực tế cho thấy, Bệnh viện Vũng Tàu đã được hỗ trợ chuyên môn để phẫu thuật kịp thời các trường hợp chấn thương sọ não nặng, thay vì phải chuyển viện như trước đây. Đồng thời, ba bệnh viện cửa ngõ của TPHCM cũng đang được hỗ trợ toàn diện về cấp cứu, hồi sức và phẫu thuật, giúp nâng cao năng lực xử trí tại chỗ và giảm áp lực cho khu vực trung tâm.


Bệnh viện Vũng Tàu đã thực hiện thành công những ca phẫu thuật cấp cứu chấn thương phức tạp mà không cần chuyển đến tuyến trên.
“Như vậy, đa cực không chỉ là phân bố địa lý, mà là phân bố năng lực chuyên môn, bảo đảm ở đâu cũng có thể cấp cứu kịp thời trong khả năng cao nhất”, PGS.TS.BS Nguyễn Anh Dũng khẳng định.
Và kế đến, TPHCM từng bước phát triển mô hình đa trung tâm. Trong đó, các trung tâm cấp cứu và hồi sức chuyên sâu được hình thành, liên thông chặt chẽ với nhau.
Trong cấu trúc này, Trung tâm Cấp cứu 115 TPHCM giữ vai trò hạt nhân điều phối cấp cứu ngoại viện, là đầu mối kết nối giữa các tầng cấp cứu thông qua tổng đài 115, bảo đảm điều động lực lượng gần nhất, phù hợp nhất với tính chất ca bệnh.
Đến nay, TPHCM đã từng bước bao phủ với 68 trạm cấp cứu vệ tinh 115, phân bố tại các bệnh viện cửa ngõ, bệnh viện khu vực và địa bàn trọng điểm. Trong thời gian tới, mạng lưới trạm cấp cứu vệ tinh sẽ tiếp tục được đánh giá, rà soát và mở rộng có trọng điểm, gắn với trạm y tế và bệnh viện đa khoa khu vực, trên cơ sở nhu cầu thực tế và khả năng tiếp cận cấp cứu của người dân.
Phát triển các trung tâm chuyên sâu và xây dựng hạ tầng hiện đại
Cùng với Trung tâm Cấp cứu 115, TPHCM từng bước hình thành và phát triển mạng lưới các trung tâm cấp cứu – hồi sức chuyên sâu tại khu vực trung tâm và các bệnh viện cửa ngõ, như: Trung tâm can thiệp tim mạch, trung tâm đột quỵ, các trung tâm cấp cứu chuyên sâu về sản – nhi…
Việc hình thành đầy đủ các trung tâm cấp cứu chuyên sâu theo từng lĩnh vực giúp phân tán hợp lý áp lực cấp cứu, phát huy thế mạnh chuyên môn của từng cơ sở, đồng thời rút ngắn thời gian tiếp cận trung tâm phù hợp nhất cho người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả cấp cứu – hồi sức trên toàn địa bàn.
Nhiều trường hợp nguy kịch được Bệnh viện Nhân dân Gia Định cứu sống nhờ kỹ thuật hồi sức tim mạch chuyên sâu trong cấp cứu.
Ngành Y tế TPHCM cũng không ngừng đầu tư phát triển các kỹ thuật cấp cứu – hồi sức chuyên sâu, tiệm cận chuẩn mực khu vực và quốc tế. Nhiều kỹ thuật cao đã và đang được triển khai, trong đó có hồi sức tim phổi nâng cao, hồi sức thay thế tim phổi nhân tạo (E-CPR) cho các trường hợp ngưng tim, ngưng thở đặc biệt.
Việc phát triển kỹ thuật gắn liền với đào tạo, chuyển giao và hỗ trợ chuyên môn từ xa, bảo đảm tính lan tỏa và đồng bộ toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa các định hướng trên, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM cho biết, thành phố sẽ tiếp tục ưu tiên đầu tư hạ tầng y tế chiến lược, trong đó có khởi công xây dựng Trung tâm Cấp cứu 115 mới và Bệnh viện Chấn thương tại khu vực Tân Kiên, Bình Chánh. Đây sẽ là đầu mối quan trọng trong điều phối cấp cứu ngoại viện, đào tạo nhân lực và phát triển các kỹ thuật cấp cứu – hồi sức chuyên sâu trong giai đoạn tới.
“Không phân biệt trung tâm hay vùng xa, đất liền hay biển đảo, người dân đều được hướng tới bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ cấp cứu kịp thời, an toàn và phù hợp với mức độ bệnh. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả chuyên môn, mà còn thể hiện cam kết bền bỉ của ngành Y tế TPHCM trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe và niềm tin của người dân”, PGS.TS.BS Nguyễn Anh Dũng nói.
(Ảnh: Hải Yến, Hoàng Lê, BVCC)
