0848 608 608

Phục vụ 24/7

Taxi Toàn Quốc

Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập

Chia Sẻ Bài Viết


Những ngày cuối tháng 4 lịch sử, trong căn nhà nhỏ ở xã Triệu Việt Vương (tỉnh Hưng Yên), ông Nguyễn Hữu Cử – nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203 (Quân đoàn 2) – lặng lẽ mang lá cờ Tổ quốc ra treo trước hiên nhà.

Xong việc, ông chậm rãi quay vào, lấy chiếc khăn khô lau nhẹ tấm ảnh đen trắng được đặt trang trọng giữa phòng. Ông nâng niu, vuốt ve từng góc ảnh rồi đứng lặng hồi lâu. Trong khung hình ấy là ông cùng đồng đội, đứng giữa sân Dinh Độc Lập vào trưa 30/4/1975 – khoảnh khắc lịch sử không thể nào quên.

“Bức ảnh này đặc biệt lắm, vì chính tôi cũng không hề biết mình đã được một phóng viên phương Tây chụp”, ông kể với phóng viên Dân trí.

Bức ảnh trước Dinh Độc Lập

Theo lời ông Cử, thời khắc những chiếc xe tăng húc đổ cổng, tiến vào Dinh Độc Lập, không khí vỡ òa trong niềm vui chiến thắng. Những người lính vừa bước ra từ chiến trận khốc liệt, gương mặt còn vương khói súng, vết thương chưa kịp băng bó, máu vẫn rỉ… nhưng tất cả dường như tan biến trước giây phút lịch sử. Ai nấy đều ôm chầm lấy nhau, niềm vui dâng trào không thể kìm nén.

Niềm vui chiến thắng lấn át cả cơn đau từ những vết thương trên cơ thể, đến khi được chỉ huy hỏi thăm, ông mới chợt nhận ra mình đang bị thương. Ông không ngờ rằng, chính khoảnh khắc ấy lại được một phóng viên nước ngoài lặng lẽ ghi lại.

“Mãi nhiều năm sau, khi những đồng đội cũ nhìn thấy hình tôi trong một tư liệu do phía nước ngoài trao lại cho quân đội, họ đã in ra rồi mang đến tặng”, ông kể.

Cầm bức ảnh trên tay, ông lặng người. “Tôi nhìn mà không nói được gì. Nhìn lại mình thời trẻ, giữa khói lửa chiến tranh, cảm xúc dâng lên rất khó tả”, ông xúc động nhớ lại.

Gần 50 năm sau ngày giải phóng miền Nam, ông Cử mới nhận được tấm ảnh chụp mình trong Dinh Độc Lập.

Theo lời người cựu chiến binh, bức ảnh được chụp đúng vào thời điểm Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng – người soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngày 30/4/1975 cho Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đọc trên Đài Phát thanh Sài Gòn – ghé thăm, hỏi han khi thấy ông bị thương.

Không chỉ vậy, còn một bức ảnh chân dung khác ghi lại nụ cười rạng rỡ của ông trong thời khắc ấy. “Ông ấy nói gì đó bằng tiếng Pháp rồi ra hiệu chụp ảnh. Lúc đó mình đang vui quá, chẳng nghĩ gì, cứ để ông ấy chụp”, ông nhớ lại.

Trong bức ảnh, người lính trẻ nở nụ cười tươi, mái tóc bết lại vì máu từ vết thương chưa kịp khô, nhưng dường như không hề cảm nhận đau đớn.

Nhiều năm sau, mỗi lần nhìn lại khoảnh khắc tiến vào Dinh Độc Lập, ông Cử vẫn không khỏi nghẹn ngào. Trước mắt ông là chính mình của tuổi 33 – một người lính vừa bước ra từ khói lửa, vừa kịp chứng kiến giây phút non sông thu về một mối.

Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập - 2
Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập - 3

Hai bức ảnh ông Cử được phóng viên phương Tây chụp trưa 30/4/1975.

Từ chàng trai hiếu học đến người lính xe tăng nơi tuyến đầu

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo với 11 anh chị em, tuổi thơ của ông Cử gắn liền với những ngày tháng thiếu thốn, bữa đói bữa no, manh áo cũng chẳng đủ ấm. Thế nhưng, chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, ý chí vươn lên trong ông lại được hun đúc mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Ông miệt mài học tập, nuôi ước mơ được cống hiến cho đất nước. Khi Tổ quốc gọi tên, chàng trai 21 tuổi, thân hình gầy gò chỉ vỏn vẹn 42kg năm ấy, đã gác lại việc học, tình nguyện lên đường nhập ngũ.

Những ngày đầu trong quân ngũ, ông được đào tạo trung cấp điện cơ, chuyên ngành điện xe tăng tại Vĩnh Phúc. Từ một người lính kỹ thuật, ông từng bước trưởng thành qua từng nhiệm vụ, từng chiến dịch. Sau huấn luyện, ông được biên chế về Trung đoàn pháo binh 168, Quân khu Tây Bắc, rồi tiếp tục được điều về Đại đội 11, Trung đoàn xe tăng 203 để học chuyên sâu về điện xe tăng.

Bước ngoặt lớn đến vào đầu năm 1968, khi đơn vị của ông cơ động vào Nam, tham gia chiến đấu tại mặt trận Thừa Thiên Huế. Những năm tháng sau đó, ông liên tiếp có mặt trong nhiều chiến dịch lớn như Đường 9 – Nam Lào (1971), chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Từ một chiến sĩ kỹ thuật, ông dần được tin tưởng giao đảm nhiệm các vị trí Chính trị viên phó, rồi Chính trị viên Đại đội, Tiểu đoàn – những cương vị đòi hỏi bản lĩnh vững vàng, sự kiên định và khả năng chỉ huy giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập - 4

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về trận chiến năm ấy với ông Cử vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua.

Sau nhiều năm chinh chiến, đến tháng 8/1972, ông được điều về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 1, Trung đoàn xe tăng 203 – đơn vị chủ lực chuẩn bị cho những chiến dịch quyết định. Đầu năm 1975, ông cùng đồng đội tiến vào Huế, rồi tham gia giải phóng Đà Nẵng ngày 29/3, tạo đà cho chiến dịch cuối cùng.

“Sau khi Đà Nẵng được giải phóng, khí thế quân ta hừng hực. Lệnh từ trên đưa xuống là “thần tốc, thần tốc hơn nữa”, chúng tôi gần như không nghỉ, cứ thế tiến vào Nam”, ông nhớ lại, ánh mắt vẫn ánh lên niềm tự hào.

Trên hành trình từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, ông cảm nhận rõ cục diện chiến trường đang đổi thay từng ngày. “Mình đi đến đâu, địch tan đến đó”, ông nói. Tuy nhiên, tại Xuân Lộc – cửa ngõ phía Đông Sài Gòn – cuộc chiến trở nên đặc biệt ác liệt. “Chúng tôi tiêu diệt được nhiều xe tăng địch, nhưng cũng chịu tổn thất lớn”, ông trầm giọng.

Trước tình hình đó, đơn vị nhận lệnh rút khỏi Xuân Lộc để bảo toàn lực lượng, chuyển hướng tiến công. Đội hình của ông vòng qua đánh vào căn cứ Nước Trong – vị trí then chốt mở đường cho mũi tiến công thẳng vào trung tâm Sài Gòn, chuẩn bị cho thời khắc lịch sử đang đến rất gần.

Trận đánh quyết định non sông về một mối

 Ông Cử nhớ lại, đúng 17h ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức mở màn. Pháo binh đồng loạt nổ súng, dội lửa vào các tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đường cho các mũi tiến công.

Ngay trong chiều hôm đó, Quân đoàn 2 tổ chức đánh chiếm căn cứ Nước Trong (Đồng Nai) – một “lá chắn thép” án ngữ cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Đây là trung tâm huấn luyện quy mô lớn với hàng nghìn quân, hàng chục xe tăng, thiết giáp, hệ thống công sự kiên cố, lại có pháo binh và không quân chi viện của địch. 

Trận đánh tại đây diễn ra giằng co, ác liệt chưa từng có. Hai bên liên tục giành giật từng vị trí, chịu tổn thất nặng nề về người và phương tiện. Tuy vậy, ngay trong ngày 26/4, các đơn vị của ta phối hợp cùng lực lượng địa phương đã từng bước chiếm giữ nhiều điểm then chốt tại Nước Trong và Long Thành.

Đến ngày 28/4, tuyến phòng ngự vòng ngoài bị chọc thủng, sức kháng cự của địch suy sụp, mở toang cánh cửa tiến vào nội đô Sài Gòn.

Những ngày ấy, bộ đội hành quân gần như không nghỉ. Đêm xuống, chiến trường chìm trong bóng tối đặc quánh, chỉ còn ánh lửa đạn chớp lên liên hồi.

“Gần như đánh nhau bằng ánh lửa. Chỗ nào lóe sáng là mình bắn ngay”, ông kể. Xe tăng lầm lũi tiến trong đêm, tuyệt đối không bật đèn, bởi chỉ một tia sáng nhỏ cũng có thể trở thành mục tiêu cho hỏa lực đối phương.

Đêm 29/4, trong lúc cơ động, xe tăng của ông bất ngờ sa xuống một hố bom lớn. Khi trèo ra kiểm tra, một loạt mảnh đạn từ vụ nổ gần đó bắn trúng khiến ông bị thương ở đầu, tay và chân. Nhiều mảnh đạn găm sâu vào cơ thể – đến tận bây giờ, trên cánh tay ông vẫn còn hai mảnh đạn chưa thể lấy ra.

Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập - 5

Trong vai phải của ông Cử vẫn còn 2 mảnh đạn chưa lấy ra.

Thế nhưng giữa khói lửa chiến trường, ông gần như không cảm nhận được đau đớn. Người Chính trị viên Tiểu đoàn vẫn giữ vững bình tĩnh, chỉ huy anh em tìm cách đưa xe thoát khỏi hố bom để tiếp tục hành quân. “Lúc đó chỉ nghĩ đến nhiệm vụ. Tôi nhớ đến anh hùng La Văn Cầu, thấy mình bị thương thế này chưa là gì”, ông nói.

Chỉ khi trở lại trong xe, một chiến sĩ đi cùng nhìn thấy máu thấm đẫm mới hốt hoảng báo ông bị thương nặng, đề nghị ông tạm nghỉ để người khác thay chỉ huy. Nhưng ông kiên quyết lắc đầu. “Tôi còn khỏe, còn chiến đấu được”, ông đáp ngắn gọn, rồi tiếp tục cùng đồng đội tiến về phía trước – nơi thời khắc lịch sử đang cận kề.

Ngày 30/4/1975, các cánh quân của ta tiến vào Sài Gòn từ nhiều hướng. Dinh Độc Lập – cơ quan đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là mục tiêu then chốt nhằm giành lại chính quyền.

Khoảng 9h ngày 30/4, Tiểu đoàn 1 của ông tiến về cầu Sài Gòn. Ngồi trên xe tăng, qua hệ thống bộ đàm, ông Cử nhận tin Tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ trúng đạn, anh dũng hy sinh khi đơn vị vừa áp sát cầu Sài Gòn.

“Tiểu đoàn trưởng từ trong xe tăng mở nắp ra kiểm tra tình hình thì bị địch bắn trúng đầu, chỉ còn cách chiến thắng ít giờ đồng hồ”, ông Cử thở dài nhớ lại.

Cả đơn vị lặng đi trong đau xót, nhưng không ai được phép dừng lại. Nén đau thương, ông lập tức tiến lên trước trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 1.

Tại đầu cầu Sài Gòn, đơn vị của ông đối mặt với xe tăng M48 của đối phương. “Chúng tôi ở phía này cầu, địa hình thấp, còn địch ở phía bên kia, vị trí cao hơn, chỉ cần mình nhô lên là có thể bị bắn trúng”, ông kể.

Tuy nhiên, nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng, toàn đơn vị đã học thuộc sơ đồ đường phố Sài Gòn từ trước đó cả tháng. Ông ra lệnh cho lực lượng tản ra hai bên, đánh vu hồi, tập trung hỏa lực tiêu diệt hai xe tăng M48. Khi đối phương suy yếu, toàn đơn vị lập tức xông thẳng qua cầu.

“Lúc đó, có thông tin phía bên kia đã có lệnh đầu hàng, nhưng chúng tôi vẫn giữ nguyên cảnh giác”, ông nói.

Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập - 6

Ông Cử luôn biết ơn những đồng đội đã hy sinh, để ông có thể sống trong nền hòa bình hôm nay.

Sau khi vượt cầu Sài Gòn, đơn vị tiếp tục đánh chiếm các điểm tại khu vực Hàng Xanh, cầu Thị Nghè rồi tiến thẳng về Dinh Độc Lập.

Qua cầu Thị Nghè, dù người dân hai bên đường vẫy cờ chào mừng, đơn vị vẫn giữ đội hình chiến đấu, quan sát kỹ các tòa nhà cao tầng để đề phòng nguy cơ bị tấn công từ trên xuống.

Trưa 30/4/1975, đoàn xe tăng tiến vào trung tâm Sài Gòn. Trước mắt họ là Dinh Độc Lập – mục tiêu cuối cùng.

Chiếc xe tăng 843 lao lên trước, húc vào cổng nhưng chưa phá được. Ngay sau đó, xe tăng khác tiếp tục xông lên, phá tung cánh cổng sắt, mở đường cho lực lượng phía sau tràn vào.

“Khoảng 30 xe tăng, xe thiết giáp tiến vào sân. Lúc đó, chúng tôi vỡ òa, ôm nhau, bắt tay nhau, giương súng bắn lên trời mừng chiến thắng”, ông nhớ lại.

Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập - 7

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 (Ảnh: Trần Mai Hưởng).

Giữa niềm vui chiến thắng, vẫn có những người bị thương, máu còn thấm trên áo. Nhưng không ai dừng bước.

Ông Cử cầm khẩu K59, cùng đồng đội nhanh chóng tiến vào bên trong Dinh. Tại đây, lực lượng đã khống chế và bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

“Lúc đó không kịp nghĩ gì nhiều, chỉ thấy mình may mắn được sống và chứng kiến thời khắc lịch sử ấy”, ông nói.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác, rồi đi học bổ túc chính trị tại Phú Bài (Huế). Cuối năm 1975, ông lập gia đình. Năm 1978, ông dẫn đơn vị sang Lào làm nhiệm vụ quốc tế, đến năm 1986, ông nghỉ hưu.

Gặp người lính được phóng viên phương Tây chụp năm 1975 trước Dinh Độc Lập - 8

Bức ảnh năm ấy được ông Cử gìn giữ cẩn thận, như cách lưu giữ một phần ký ức tuổi trẻ hào hùng.

Trở về đời thường, ông Cử vẫn giữ nếp sống của người lính, tích cực tham gia công tác địa phương, vận động thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự, sống đúng với truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Với ông, mỗi dịp 30/4 luôn mang ý nghĩa đặc biệt.

“Tôi luôn nghĩ đến những đồng chí đã hy sinh, có người ngã xuống ngay trước giờ chiến thắng. Mình sống được đến hôm nay là may mắn lắm”, ông trầm giọng.

Ông lặng lẽ nhìn lại bức ảnh cũ – nơi lưu giữ hình ảnh của một thời tuổi trẻ, của khói lửa chiến tranh và niềm vui vỡ òa ngày toàn thắng.

“Chiến tranh qua rồi, giờ chỉ mong đất nước mãi hòa bình, nhân dân yên vui. Đó là điều chúng tôi đã đánh đổi bằng rất nhiều máu xương để có được”, ông nói.

Ngoài hiên, lá cờ đỏ vẫn tung bay trong nắng tháng 4 – như một lời nhắc nhớ về quá khứ, và cũng là biểu tượng của hòa bình hôm nay.

Ảnh: Nguyễn Ngoan – Trần Thành Công



Nguồn