“N.Y., chào cô nào!”.
Nữ điều dưỡng cúi thấp người, nhìn vào mắt cô bé 5 tuổi, kiên nhẫn chờ đợi.
Căn phòng âm ngữ trị liệu im lặng vài giây. Rồi từ đôi môi nhỏ, một âm thanh rất khẽ bật ra.
“Dạ…”.
Tiếng “dạ” ngắn, ngập ngừng, nhưng người bà đang lặng lẽ dõi theo phía sau bất chợt quay mặt đi, đưa tay lau nước mắt.
Để có được tiếng “dạ” ấy, hai bà cháu đã đi qua nhiều ngày rong ruổi từ Hưng Yên lên Hà Nội. Gia đình thuộc diện khó khăn, mẹ cháu đi làm thuê, còn bà ngoại là người bồng bế, đưa cháu đến Trung tâm điều trị và chăm sóc trẻ tự kỷ, bại não, Bệnh viện Châm cứu Trung ương.

Trước đây, N.Y. gần như chưa có ngôn ngữ. Con không biết diễn đạt nhu cầu, không biết đáp lại khi được gọi tên. Mỗi lần muốn điều gì, con thường chỉ khóc, kéo tay người lớn hoặc tự thu mình trong thế giới riêng. Sau nhiều đợt can thiệp, cô bé đã bắt đầu biết nói từ đơn đúng ngữ cảnh, biết đáp lại bằng những tiếng “dạ”, “ạ” ngập ngừng.
Với những gia đình có con tự kỷ, đó là thay đổi rất lớn.

Tại Trung tâm, những khoảnh khắc như vậy diễn ra gần như mỗi ngày, cùng với đó là ánh mắt rưng rưng của cha mẹ, ông bà khi đứa trẻ lần đầu biết nhìn vào mắt người đối diện, bật ra một tiếng chào, hay chủ động xin uống nước, đi vệ sinh.
Ở góc phòng còn lại, bé D. đang ngồi trước bàn học cùng điều dưỡng Nguyễn Thị Phượng. Trên bàn là những tấm thẻ hình con vật, đồ vật và bảng chữ cái. Cô cầm tay bé, chậm rãi hướng dẫn từng khẩu hình.

“Cờ… a… ca… sắc… cá”.
Cậu bé ngập ngừng, đôi tay vẫn thỉnh thoảng chạm vào đồ vật xung quanh. Phải mất thêm vài nhịp nhắc lại, em mới khó khăn bật ra tiếng: “Cá”.
“Đúng rồi, giỏi quá!”, điều dưỡng Phượng lập tức cổ vũ.
Theo điều dưỡng Phượng, với nhiều trẻ tự kỷ, để nói được một từ đúng ngữ cảnh là cả quá trình dài. Trước khi có ngôn ngữ, các em phải học cách chú ý, bắt chước, nhìn vào người đối diện, điều chỉnh hơi thở, phối hợp môi – lưỡi – hàm và hiểu rằng âm thanh mình phát ra có ý nghĩa giao tiếp.

Điều dưỡng Phượng gắn bó với Trung tâm từ năm 2014. Chị nói, với trẻ tự kỷ, nhiều khi mình phải bắt đầu từ “con số âm”.
“Có cháu vào viện chưa biết gọi bố mẹ, gọi tên không quay lại, không đáp ứng yêu cầu. Muốn dạy được một từ, trước hết phải dạy các con biết bắt chước khẩu hình miệng, biết lấy hơi, biết chú ý vào người đối diện”, cô chia sẻ.
D. đã trải qua nhiều đợt điều trị. Ngày mới đến, con gần như không chủ động về ngôn ngữ. Khi được gọi, con không quay đầu. Những yêu cầu đơn giản như “lại đây”, “đưa cho cô”, “ngồi xuống” cũng không được đáp ứng ổn định.
Sau 5 đợt can thiệp, cậu bé đã nói được câu dài 3-4 từ, biết thể hiện nhu cầu cá nhân như xin đi vệ sinh, xin uống nước, biết nói sở thích của mình.

Hiện tại, D. đang được học chương trình “tiền tiểu học”, làm quen với bảng chữ cái và tính toán trong phạm vi 10. Mục tiêu không chỉ là nói được nhiều hơn, mà là chuẩn bị những kỹ năng cơ bản để con có thể bước vào lớp học cùng các bạn.
Theo BSCKI Nguyễn Thế Dũng, Giám đốc Trung tâm điều trị và chăm sóc trẻ tự kỷ, bại não, nhiều trẻ được đưa đến viện khi cha mẹ đã nhận thấy con “khác các bạn”.
Tuy nhiên, không ít trường hợp vẫn đến muộn vì gia đình nghĩ trẻ chậm nói đơn thuần.

Bác sĩ cho biết, giai đoạn từ 18 đến 36 tháng tuổi được xem là “thời gian vàng” để phát hiện và can thiệp. Nếu trẻ 12 tháng chưa bập bẹ, 18 tháng chưa nói từ đơn, 24 tháng chưa nói được cụm hai từ, ít giao tiếp mắt, gọi tên không quay lại, hay có các hành vi lặp lại như đi kiễng chân, xoay vòng, xếp đồ vật theo hàng, cha mẹ cần đưa trẻ đi đánh giá sớm.
“Càng phát hiện sớm, khả năng can thiệp càng tốt. Nếu bỏ lỡ giai đoạn vàng, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều”, BS Dũng nói.

Tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, điều trị trẻ tự kỷ là một lộ trình phối hợp nhiều phương pháp, từ y học cổ truyền đến âm ngữ trị liệu, vận động trị liệu và giáo dục đặc biệt. Mỗi trẻ sau khi được đánh giá sẽ có phác đồ riêng, tùy theo mức độ rối loạn ngôn ngữ, hành vi, nhận thức và vận động.

Trong phòng điều trị, bé N.Đ.M., 6 tuổi, ngồi yên trên giường khi bác sĩ thực hiện điện châm. Những chiếc kim nhỏ được đặt vào các huyệt vùng đầu, tay và chân. Các dây dẫn mảnh nối với máy điện châm, truyền xung điện nhẹ qua đầu kim.

M. đã điều trị gần một năm. Từ một cậu bé gần như chưa nói được mấy, nay em đã có thể giao tiếp bằng những câu cơ bản. Mỗi thay đổi nhỏ của con đều được gia đình ghi nhận như một mốc đáng nhớ.
Theo BS Dũng, mục tiêu của điện châm không phải làm trẻ ngủ yên hay chỉ giảm các hành vi tăng động. Các bác sĩ hướng đến việc cải thiện khả năng nhận thức, tập trung, giao tiếp và điều hòa hoạt động thần kinh.

“Chúng tôi gọi đó là khai khiếu tinh thần. Tức là giúp trẻ tỉnh táo hơn, tăng khả năng tiếp nhận, học hỏi và tương tác với môi trường xung quanh”, BS Dũng giải thích.

Bên cạnh điện châm, Trung tâm còn áp dụng thủy châm, cấy chỉ, nhĩ châm, xoa bóp bấm huyệt. Với thủy châm, thuốc được đưa vào một số huyệt đạo phù hợp theo chỉ định của bác sĩ.
Cấy chỉ thường được lựa chọn cho những gia đình ở xa hoặc khó có điều kiện nằm viện dài ngày. Sau khi thực hiện thủ thuật, trẻ có thể trở về địa phương và tái khám theo lịch hẹn.
Tuy nhiên, các bác sĩ nhấn mạnh, châm cứu không thể tách rời các can thiệp khác. Một đứa trẻ có thể tỉnh táo hơn, tập trung hơn sau điều trị y học cổ truyền, nhưng để biến sự cải thiện đó thành ngôn ngữ, kỹ năng tự phục vụ và khả năng hòa nhập, vẫn cần được học từng ngày trong phòng âm ngữ, phòng vận động và tại chính gia đình.

Đầu giờ chiều, khu vận động trị liệu bắt đầu đông hơn. Một bé trai tập đạp xe dưới sự hỗ trợ của kỹ thuật viên. Ở góc khác, một trẻ cố gắng giữ thăng bằng trên thiết bị tập đứng. Có em chỉ cần đứng vững thêm vài giây cũng khiến người nhà mừng rỡ.

Nhiều trẻ tự kỷ kèm theo rối loạn vận động hoặc bại não có tình trạng co cứng cơ, hạn chế khả năng đứng, đi, phối hợp tay chân. Sau châm cứu, các bài tập vận động giúp làm mềm cơ, tăng biên độ khớp, cải thiện khả năng thăng bằng và hình thành kỹ năng chức năng.
“Muốn đi được thì phải đứng được trước. Muốn đứng được thì phải tập mỗi ngày”, một kỹ thuật viên chia sẻ.

Với đội ngũ điều trị, khó nhất là sự bền bỉ. Trẻ tự kỷ tiến bộ rất chậm. Có khi một động tác, một âm tiết, một hành vi nhỏ phải lặp lại hàng trăm, hàng nghìn lần. Có hôm trẻ hợp tác, có hôm quấy khóc, chống đối, không chịu nhìn vào cô giáo. Những ngày như vậy, người lớn phải kiên nhẫn hơn đứa trẻ rất nhiều.

Hiện Trung tâm có 46 cán bộ y tế, trong đó có 16 bác sĩ chuyên khoa và gần 10 giáo viên âm ngữ trị liệu. Họ làm việc trong một môi trường đặc biệt, nơi thành công được đo bằng từng thay đổi rất nhỏ của trẻ.
BS Nguyễn Thế Dũng cho biết, năm nào Trung tâm cũng có nhiều trẻ đến tuổi đi học tiểu học có thể trở về địa phương, hòa nhập với bạn bè. Có em tiếp thu vẫn chậm hơn, cần hỗ trợ thêm, nhưng việc trẻ biết giao tiếp, biết chào hỏi, biết ngồi học và không còn bị cô lập đã là thành công rất lớn.
“Mục tiêu cuối cùng không phải biến tất cả trẻ thành những đứa trẻ hoàn toàn bình thường. Chúng tôi mong các con có thể vào lớp 1 lúc 6 tuổi, sau này học được một nghề phù hợp, tự chăm sóc bản thân và sống có ích”, BS Dũng nói.

Bệnh viện Châm cứu Trung ương cũng đang đẩy mạnh nghiên cứu kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, trong đó có chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu về bệnh nhân và kết quả điều trị để đánh giá khách quan hơn hiệu quả can thiệp. Việc ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng giúp cá thể hóa phác đồ cho từng trẻ trong tương lai.
