Khuôn viên Tòa Đại sứ Mỹ sáng 31/1/1968, giữa làn khói đặc quánh, những tiếng súng vừa ngớt, chiến sĩ Út Nhỏ quay sang mỉm cười với người đồng đội Ba Đen. Ông lấy ngón tay gõ nhẹ vào mặt đồng hồ rồi nói: “Vượt yêu cầu rồi đó, anh Ba!”.
Lúc ấy gần 9h sáng, đội đã cầm cự được 6 tiếng đồng hồ. Chỉ ít phút sau, ông Út Nhỏ trúng lựu đạn, bị thương nặng rồi hy sinh tại chỗ.
Suốt hơn nửa thế kỷ, đồng đội không biết tên thật, quê quán, nhân thân của ông. Gia đình biết ông đã tử trận mà không rõ ngã xuống ở đâu, thuộc đơn vị nào.
Phải hơn 50 năm sau, cái tên Bùi Văn Ráng mới được trả lại cho người chỉ huy trận đánh lịch sử, gây chấn động thế giới trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
Trận tập kích của biệt động vào Tòa Đại sứ Mỹ ngày 31/1/1968 gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới (Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN).
“Anh cứ yên tâm, chúng tôi sẽ đánh đến người cuối cùng”
Sau cuộc điện thoại với phóng viên Dân trí, ông Hồ Duy Hùng – chiến sĩ điệp báo thuộc Ban Quân báo Quân khu Sài Gòn – Gia Định, hiện là thành viên Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến Khối Quân báo (trực thuộc Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến TPHCM và Ban Liên lạc Tình nghĩa Quân báo, Tổng cục II, Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng) – đồng ý hẹn gặp.
Khi chúng tôi đến nơi, ông Hùng đã chuẩn bị sẵn tập tài liệu, đặt ngay ngắn trên bàn tiếp khách, trong căn nhà nằm tại đường Lê Lâm (phường Phú Thạnh, TPHCM).
Ông lần lượt mở từng cuốn sách, từng tập kỷ yếu đã được gìn giữ nhiều năm. Đó là hồi ký Biệt động Sài Gòn của Đại tá Tư Chu (Chỉ huy trưởng lực lượng biệt động Quân khu Sài Gòn – Gia Định), Kỷ yếu Quân báo Quân khu Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ, cùng bản sao tài liệu giải mật của phía tình báo Mỹ mà ông dày công sưu tầm hơn 20 năm trước.

Cựu chiến sĩ điệp báo, phi công Hồ Duy Hùng bên những tài liệu về chiến sĩ biệt động Sài Gòn (Ảnh: Bích Phương).
“Tư liệu về lực lượng biệt động rất ít. Mỗi nguồn tư liệu chỉ kể một phần câu chuyện về anh Út Nhỏ. Muốn hiểu được quá trình hoạt động của anh ấy thì phải ghép tất cả mảnh ghép ấy lại với nhau”, ông Hùng nói.
Từ những trang hồi ký của đồng đội, kỷ yếu của lực lượng Quân khu Sài Gòn – Gia Định và cả những tài liệu được giải mật từ phía bên kia chiến tuyến, chân dung người chiến sĩ mang bí danh Út Nhỏ dần hiện lên rõ nét.
Ông Hồ Duy Hùng cho biết, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cuối năm 1967, Trung ương Cục miền Nam ra quyết định quan trọng: Giải thể Quân khu Miền Đông (T1), Quân khu Sài Gòn – Gia Định (T4) để tổ chức lại chiến trường trọng điểm Sài Gòn – Gia Định.
Thay vì mô hình quân khu cũ, một “khu trọng điểm” được hình thành, chia thành 6 phân khu với các bộ chỉ huy riêng nhằm bảo đảm tính linh hoạt, bí mật và tạo thế bao vây trung tâm Sài Gòn từ nhiều hướng.
Trong đó, Phân khu 6 là lực lượng đặc biệt, quy tụ biệt động và đặc công hoạt động bí mật trong nội đô, được giao nhiệm vụ đánh thẳng vào các mục tiêu đầu não của chính quyền Sài Gòn và quân đội Mỹ.
Khi kế hoạch Tổng tiến công bước vào giai đoạn hoàn tất, Phân khu 6 đã xây dựng phương án tiến công 9 mục tiêu trọng yếu trong nội đô. Tuy nhiên, tại cuộc họp thông qua kế hoạch ngày 24/1/1968 (ngày 23 tháng Chạp), Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định Võ Văn Kiệt đặt ra câu hỏi: “Tại sao các anh không đánh Tòa Đại sứ Mỹ? Không đánh Tòa Đại sứ thì xem như lực lượng biệt động trong Mậu Thân không tham gia”.
Sau khi cân nhắc, Bộ Chỉ huy Phân khu 6 quyết định bổ sung Tòa Đại sứ Mỹ thành mục tiêu thứ 10 – mục tiêu đặc biệt và cũng là mục tiêu có ý nghĩa chính trị lớn nhất trong toàn bộ chiến dịch ở miền Nam.
Quyết định được đưa ra khi thời điểm “ngày N và giờ G” gấp rút tới gần (đêm mùng 1, rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân). Lúc này, phần lớn lực lượng biệt động đã được phân công vào các mục tiêu khác, kho vũ khí, cơ sở ém quân và mạng lưới bảo đảm cũng đã triển khai xong. Trong bối cảnh gấp gáp ấy, một đơn vị hoàn toàn mới được thành lập gồm 17 nhân sự, đặt tên là Đội 11 độc lập.
Nòng cốt của đơn vị là những cán bộ trinh sát – quân báo, một số cán bộ văn phòng được tăng cường từ Phòng Tham mưu. Đồng chí Ba Đen phụ trách tổ chức chung, còn đồng chí Út Nhỏ vốn dày dặn kinh nghiệm từ vai trò Đại đội trưởng Trinh sát – Quân báo của Phân khu 6, được tín nhiệm giao làm đội trưởng lực lượng đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ.

Sơ đồ trận đánh vào Đại sứ quán Mỹ của lực lượng Biệt động Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968 (Ảnh: Bộ Tư lệnh TPHCM).
Chỉ còn 1-2 ngày trước thời khắc nổ súng, tại căn cứ xuất phát, mọi công tác chuẩn bị cho trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ cơ bản đã hoàn tất.
Sáng 30 Tết, đội chuyển xong xe vũ khí đến nơi tạm tập kết gồm: 12 khẩu AK, ba khẩu B-40, 200kg TNT, hai súng lục và 100 lựu đạn. Phương tiện di chuyển có một xe vận tải nhẹ và một xe du lịch.
Nhìn đơn vị của Ba Đen – Út Nhỏ trong một thời gian ngắn đã tổ chức được lực lượng, chuẩn bị vũ khí, phương tiện và phương án tác chiến chu đáo, Đại tá Tư Chu khi ấy vô cùng xúc động.
Trong hồi ký Biệt động Sài Gòn, ông nhớ lại: “Có lẽ nhận ra sự lo lắng, băn khoăn của tôi trong những giây phút ấy, đồng chí Út Nhỏ, đội trưởng, ôm tôi và nói: “Anh yên tâm. Tôi và anh Ba Đen sẽ lo được. Chúng tôi hứa với anh là sẽ đánh đến người cuối cùng…””.
Nụ cười của vị đội trưởng sau 6 tiếng cầm cự ở sào huyệt kẻ thù
Không khí trước giờ xuất kích khá căng thẳng, hồi hộp, nhưng ai cũng mang tinh thần vô tư, sôi nổi.
Theo lời kể của Thiếu tá Ba Đen trong sách Sài Gòn Xuân Mậu Thân 1968 (hồi ký của Đại tá Tư Cang), trước khi lên xe, đồng chí Hai Trí (một cán bộ quân sự của Sài Gòn – Gia Định) trao cho Út Nhỏ, Ba Đen cùng Bảy Tuyền, Sơn – những người trong ban chỉ huy đội 11 – mỗi người một bộ com-lê, đầy đủ áo vest, sơ mi, cà vạt và một đôi giày da bóng loáng.
“Đêm nay, các anh nhận một nhiệm vụ vô cùng quan trọng: Đánh thẳng vào tận sào huyệt của bọn Mỹ, giáng cho chúng một đòn sấm sét. Hãy thay bộ đồ này vào, vừa để ngụy trang khi di chuyển trên đường phố, vừa để cho bọn Mỹ thấy chiến sĩ Giải phóng của chúng ta cũng đàng hoàng như thế, chứ không phải như những điều chúng vẫn tuyên truyền”, Hai Trí dặn.
Giữa không khí ấy, vẫn có những tiếng cười. Chiến sĩ Bảy Tuyền cười bảo: “Nếu tụi mình nằm trên sân Tòa Đại sứ Mỹ, chắc chắn sẽ được chụp ảnh, quay phim khắp thế giới”.
Khi các thành viên đội 11 thay quần áo xong, ông Ngô Toại – chủ tiệm Phở Bình, đồng thời là chiến sĩ của đơn vị bảo đảm ở phân khu – bất chợt gọi với theo như nhớ ra điều gì: “Chờ tí, chờ tí!”. Ông vội chạy lên lầu, mang xuống một chồng thuốc lá 555 rồi phát cho từng người. “Đi đánh Mỹ thì phải hút thuốc “ba số 5″ mới đã!”, ông cười nói.
Cuộc tiễn đưa giữa những người đồng chí diễn ra trong bầu không khí vui vẻ mà nghẹn ngào. Ai cũng hiểu đây có thể là lần gặp cuối cùng của một ai đó, nhưng không một người nao núng.
Những câu nói đùa thay cho lời từ biệt. Nước mắt chực trào ra nhưng ai cũng cố nén lại trong lòng. Bởi hơn ai hết, tất cả đều hiểu rằng không có thắng lợi nào mà không phải trả giá bằng xương máu. Ai cũng biết điều đó, nhưng trong giờ phút này, không ai muốn nói thành lời.

Đội vũ trang của đặc khu Sài Gòn – Gia Định trước giờ xuất kích tham gia chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 (Ảnh: Tư liệu).
2h45 rạng sáng 31/1/1968 (Mùng 2 Tết Mậu Thân), Đội 11 biệt động độc lập xuất phát từ quán Phở Bình và vài cơ sở ém quân khác, áp sát Tòa Đại sứ Mỹ. Bức tường quá cao, không vào được leo vào được, họ đưa khối TNT 6,75kg đánh bờ tường rào thủng một lỗ lớn. Đội chia thành nhiều mũi tiến công Tòa Đại sứ Mỹ. Theo phương án tác chiến, Ba Đen và Út Nhỏ trực tiếp chỉ huy mũi chủ công đánh thẳng vào khu nhà chính.
Chỉ trong ít phút đầu, lực lượng biệt động làm chủ tầng trệt, thu nhiều vũ khí và bắt giữ một số lính Mỹ. Tuy nhiên, ngay sau đó, quân Mỹ nhanh chóng điều lực lượng quân cảnh, xe bọc thép và trực thăng đến bao vây, phản kích từ bốn phía.
Trực thăng gầm rú trên bầu trời, tìm cách đổ quân xuống nóc tòa nhà. Bên ngoài hàng rào, giữa làn đạn và tiếng trực thăng, các phóng viên quốc tế đội mũ sắt liên tục ghi lại những hình ảnh sẽ xuất hiện trên trang nhất của nhiều tờ báo lớn trên thế giới.
Theo hồi ký của Đại tá Tư Chu, các chiến sĩ biệt động đã bắn trả quyết liệt, buộc chiếc trực thăng đầu tiên không thể hạ cánh. Trước hỏa lực áp đảo của đối phương, anh em chỉ bắn từng loạt ngắn, tiết kiệm từng viên đạn để cầm cự càng lâu càng tốt.
Khi các mũi chiến đấu lần lượt im tiếng vì thương vong, đồng chí Ba Đen và đồng chí Út Nhỏ vẫn bám trụ ở điểm phòng ngự cuối cùng dưới chân cầu thang. Cả hai đều đã bị thương và kiệt sức.
Ông Ba Đen dùng súng ngắn chặn địch từ trên lầu tràn xuống, còn ông Út Nhỏ ôm khẩu AK, bình tĩnh bắn từng phát một mỗi khi lính Mỹ xuất hiện ngoài sân.

Hình ảnh về cuộc tập kích Tòa Đại sứ Mỹ tháng 1/1968 trên tạp chí Life (Ảnh: Sách “Biệt động Sài Gòn”).
Giữa làn khói đặc quánh và tiếng súng vừa tạm lắng, Út Nhỏ quay sang người đồng đội Ba Đen, gõ nhẹ vào mặt đồng hồ rồi mỉm cười vì đã cầm cự vượt thời gian được giao phó. Trong thời khắc ngàn cân treo sợi tóc, Út Nhỏ dường như không màng đến cái chết. Đối với người chỉ huy, còn niềm vui nào lớn hơn khi đơn vị mình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Chỉ vài phút sau, từ tầng trên, quân Mỹ liên tiếp ném lựu đạn xuống. Ngay loạt đầu tiên, Út Nhỏ bị thương nặng rồi hy sinh. Đến 9h sáng, quân Mỹ hoàn toàn kiểm soát được Tòa Đại sứ. Nhưng những gì diễn ra trong gần 6 giờ giao tranh đã khiến chính phía bên kia chiến tuyến phải thừa nhận sự quả cảm của lực lượng biệt động.
Trong cuốn Tết (NXB Tổng hợp TPHCM, dịch giả Hà Nguyễn), nhà báo Mỹ Don Oberdorfer – người có mặt tại Sài Gòn trong Tết Mậu Thân 1968 – dẫn lời Đại tá Jacobson kể lại rằng các chiến sĩ biệt động Việt Nam đã bám trụ sau những bồn hoa, góc tường trong khuôn viên Tòa Đại sứ để liên tục đánh trả hỏa lực ngày càng dữ dội của quân Mỹ.
“Suốt đêm hôm ấy, Đại tá Jacobson, người từng trải bao chiến trận, chốc chốc lại nhìn những người lính Việt Cộng từ chiếc cửa sổ biệt thự của ông nằm sau Tòa sứ quán. Ông có ấn tượng sâu sắc về sự dũng cảm phi thường của họ trong chiến đấu. Chẳng một ai trong số họ tỏ ra có một chút gì nao núng hay chịu đầu hàng”, Don Oberdorfer viết.
Kết thúc trận đánh, toàn bộ thành viên đội 11 đều hy sinh, riêng đồng chí Ba Đen chỉ bị đạn sượt vào hông, may mắn sống sót. Như vậy là, người đội trưởng Út Nhỏ đã thực hiện trọn vẹn lời hứa trước giờ xuất kích: “Đánh đến người cuối cùng”.
Hành trình tìm lại tên thật của Út Nhỏ
Út Nhỏ không phải tên thật của vị đội trưởng Đội 11 biệt động đánh Tòa Đại sứ Mỹ. Đó là bí danh ông mang trong suốt những năm hoạt động tại Quân khu Sài Gòn – Gia Định.
Suốt hơn nửa thế kỷ sau trận đánh, hai chữ “Út Nhỏ” xuất hiện trong hồi ký của đồng đội, trong những trang sử về Tết Mậu Thân. Nhưng phía sau bí danh ấy là ai, quê ở đâu, tên thật là gì… vẫn là khoảng trống chưa có lời giải.

Bà Nguyễn Thị Bích Nga – Chủ nhiệm CLB Truyền thống Kháng chiến Khối Biệt động Sài Gòn – Gia Định – trong cuộc gặp phóng viên Dân trí (Ảnh: Bích Phương).
Cách căn nhà của ông Hồ Duy Hùng khoảng 9km, trên đường Hưng Phú (phường Chánh Hưng, TPHCM), bà Nguyễn Thị Bích Nga – Chủ nhiệm CLB Truyền thống Kháng chiến Khối Biệt động Quân khu Sài Gòn – Gia Định – cũng đang lật giở những tập hồ sơ cũ. Thời gian này, khi Bộ Tư lệnh TPHCM thực hiện quá trình quy tập hài cốt liệt sỹ ở Công viên Lê Thị Riêng, đêm nào bà cũng nghĩ về những đồng đội đã ngã xuống.
Suốt nhiều năm, người phụ nữ 75 tuổi cùng đơn vị bà lặng lẽ đi tìm tên tuổi cho 49 chiến sĩ biệt động còn thiếu hồ sơ để được công nhận liệt sỹ. Trong số đó, Út Nhỏ là trường hợp khiến bà xúc động nhất.
“Tất cả cán bộ chiến sĩ biệt động hoạt động bí mật nên hầu hết đều dùng bí danh, không kê khai quê quán hay thân nhân. Đợt 1 Tết Mậu Thân, đơn vị chúng tôi có 88 cán bộ chiến sĩ tham gia, trong đó có 61 người hy sinh. Sau hòa bình, 12 người đã được công nhận là liệt sỹ nhờ có giấy báo tử, xác nhận được nhân thân, còn 49 người chưa đầy đủ hồ sơ, không có họ tên thật, không có thông tin”, bà Nga chia sẻ.
Cuối năm 2025, khi chỉ còn ít thời gian để hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Nội vụ, bà Nga quyết định lật lại toàn bộ những tập báo, kỷ yếu cũ một lần nữa.
Giữa hàng chồng tài liệu, một bài báo đăng trên báo Cựu chiến binh TPHCM từ 16 năm trước bất ngờ thu hút sự chú ý. Tiêu đề ngắn gọn: “Người đội trưởng đơn vị tấn công Tòa Đại sứ Mỹ Tết Mậu Thân đã có họ tên”.

Bà Nga mở tấm ảnh chụp bài báo bà tìm được vào cuối năm 2025 (Ảnh: Bích Phương).
Bài báo thuật lại việc Đại tá Tư Chu nhiều năm trước đã lần tìm được gia đình người chiến sĩ mang bí danh Út Nhỏ, qua người em gái của ông Út Nhỏ là bà Sáu Nhỏ.
Tìm được người em gái, mọi người mới biết Út Nhỏ tên thật là Bùi Văn Ráng, sinh năm 1928, quê huyện Cần Giuộc (Long An cũ). Ông nhập ngũ năm 1947, tập kết ra miền Bắc năm 1954. Năm 1966, ông về miền Nam chiến đấu và là cán bộ thuộc Ban Quân báo Sài Gòn – Gia Định.
“Tôi ngỡ ngàng. Hóa ra anh Tư Chu đã xác minh được từ rất lâu rồi. Nhưng anh ấy chưa kịp nói với chúng tôi thì qua đời. Bài báo nhỏ, ít người biết, nên đầu mối ấy gần như bị đứt suốt nhiều năm”, bà Nga nhớ lại.
Lần theo địa chỉ ghi trong bài báo cũ, bà Bích Nga tìm đến gia đình ông Út Nhỏ. Cha mẹ, các anh chị em ruột của ông Út Nhỏ đều qua đời. Vị đội trưởng Đội 11 chưa từng lập gia đình. Trên bàn thờ gia tiên, người còn chăm nom hương khói cho ông chỉ còn một người cháu dâu.
“Gia đình biết ông hy sinh từ lâu, nhưng không biết ông hoạt động dưới bí danh Út Nhỏ, cũng không biết ông chiến đấu ở đơn vị nào, ngã xuống ở đâu. Sau hòa bình, cha mẹ ông đi tìm con nhiều năm nhưng vô vọng. Đến khi ông bà và các anh chị em lần lượt qua đời, những giấy tờ, tư liệu liên quan đến ông cũng không còn nữa”, bà Nga kể.

Tấm ảnh hiếm hoi của liệt sỹ Út Nhỏ (Ảnh: Đơn vị cung cấp).
Cuộc tìm kiếm ấy cũng diễn ra vào thời điểm nước rút để hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận liệt sỹ cho 49 chiến sĩ biệt động Sài Gòn còn thiếu thông tin.
Theo bà Nga, cơ quan chức năng yêu cầu phải xác minh đầy đủ tên thật, năm sinh, quê quán và quá trình hoạt động của từng trường hợp. Từ bài báo cũ, lời kể của thân nhân, các tài liệu lưu trữ của lực lượng biệt động và nhiều nguồn tư liệu khác, hồ sơ về Út Nhỏ dần được ghép lại.
Tháng 1/2026, ông Bùi Văn Ráng (bí danh Út Nhỏ) cùng 48 chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh trong đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân được Nhà nước công nhận là liệt sỹ, truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”.
Trong số 49 trường hợp, ông là người duy nhất xác minh được đầy đủ nhân thân.
Bà Nga lặng người khi nhắc đến điều còn dang dở.
“Ông Út Nhỏ đã có Bằng Tổ quốc ghi công, nhưng gia đình không còn ai thuộc diện được hưởng chế độ. Người cháu ruột gọi ông bằng cậu cũng đã mất. Giờ chỉ còn người cháu dâu thay mặt gia đình thờ cúng ông…”, bà nói.
Nếu hành trình của bà Bích Nga góp phần trả lại tên thật và quê hương cho người chiến sĩ mang bí danh Út Nhỏ, thì những tư liệu mà ông Hồ Duy Hùng dày công sưu tầm suốt hơn 20 năm cũng giúp lấp đầy một khoảng trống khác: vai trò thực sự của ông trong trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ.
Trước đây, nhiều tư liệu thường nhắc Ba Đen là chỉ huy chính của Đội 11. Thông tin cụ thể về Út Nhỏ rất ít ỏi. Cho đến nay, nhiều người vẫn không biết Út Nhỏ mới chính là đội trưởng phụ trách tổ chức của nhóm biệt động đánh Tòa Đại sứ Mỹ.
Theo ông Hùng, năm 2003, thông qua một cựu binh Mỹ quen biết ở lớp học tiếng Anh, ông tiếp cận bộ hồ sơ giải mật của Trung tâm Thẩm vấn quân sự hỗn hợp (CMIC) – cơ quan chuyên khai thác tù binh của quân đội Mỹ.
Đọc tài liệu, ông Hùng nhận thấy nhiều chi tiết trước đây ít được biết đến về vai trò của Út Nhỏ.
Theo hồ sơ CMIC, từ tối 28/1 đến rạng sáng 31/1/1968, hầu như toàn bộ quá trình chuẩn bị cho trận đánh đều do Út Nhỏ trực tiếp tổ chức và điều hành.
Chính ông Út Nhỏ là người vận chuyển vũ khí, bố trí các điểm hẹn, phân công lực lượng, liên lạc với các cơ sở cách mạng và giao nhiệm vụ cho từng tổ chiến đấu. Ngay cả Ba Đen – người sau này được biết đến là chỉ huy duy nhất sống sót – cũng hoạt động theo kế hoạch do Út Nhỏ sắp xếp.
Những tài liệu này giúp làm rõ hơn vai trò của Út Nhỏ. Ông không chỉ là người cầm súng chiến đấu ở mũi chủ công, mà còn là người trực tiếp tổ chức, chỉ huy toàn bộ quá trình chuẩn bị cho trận đánh.
Nỗi day dứt của người ở lại
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ, nhưng cũng như nhiều chiến sĩ biệt động hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, hài cốt của Út Nhỏ và các đồng đội vẫn chưa được tìm thấy.
Trận đánh đã khép lại từ sáng 31/1/1968. Nhưng với những người còn sống, có những hành trình chưa bao giờ kết thúc. Đó là chặng đường kiên trì đi tìm tên tuổi cho đồng đội, đi tìm những phần mộ còn thất lạc, để gửi lời tri ân, tưởng nhớ, cũng là đi tìm lời giải đáp cho những gia đình đã chờ đợi suốt hơn nửa thế kỷ.
Trong ký ức những người còn sống sau chiến dịch lịch sử, họ luôn đau đáu nỗi đau, sự day dứt khi nghĩ về những đồng đội đã ngã xuống.

Sau nhiều năm đơn vị kiên trì lập hồ sơ, tháng 1 năm nay, Chính phủ công nhận 49 chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh năm 1968 là liệt sỹ, cấp bằng Tổ quốc ghi công theo đề nghị của Bộ Nội vụ (Ảnh: Bích Phương).
Người duy nhất sống sót sau trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ là ông Ba Đen (tên thật Ngô Thành Vân). Bị thương nặng, ông bị quân Mỹ bắt làm tù binh và đưa đi thẩm vấn. Sau Hiệp định Paris năm 1973, ông Ba Đen được trao trả.
Năm 1976, trong một lần ghé nhà của Đại tá Tư Cang (Cụm H.63), ông Ba Đen kể về trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ, rồi bất chợt dừng lời. Ông rút một điếu thuốc, đánh diêm rồi khum bàn tay che ngọn lửa, như để giấu đi hai dòng nước mắt vừa trào ra trên gương mặt sạm đen của người lính đã đi qua chiến tranh.
“Nhớ lại, thật xúc động, anh Tư à. Trong trận đánh ấy, tất cả anh em đều hy sinh. Giờ đây chỉ còn lại một mình tôi. 17 người mà hy sinh 16 người.
Hỡi ôi! Không hiểu do phép màu nào mà tôi còn sống. Mỗi lần nhớ lại từng gương mặt trẻ măng, sôi nổi, yêu đời, những người bước vào trận đánh với một tâm hồn thanh thản, không một chút tính toán riêng tư, tôi lại thương anh em mình quá…”, người chiến sĩ biệt động nói.

Công trình Bia tưởng niệm liệt sỹ Biệt động Sài Gòn được khánh thành hồi tháng 1 trong khuôn viên Nghĩa trang Liệt sỹ TPHCM (Ảnh: Ngọc Tân).
Ông Ba Đen mang theo nỗi day dứt ấy cho đến khi đột ngột qua đời vì tai nạn giao thông năm 1978. Đó dường như cũng là nỗi niềm của nhiều người chỉ huy, nhiều đồng đội đã đi qua cuộc chiến.
Như Đại tá Tư Chu, ông Hồ Duy Hùng, bà Nguyễn Thị Bích Nga, những người lính còn sống sau hòa bình, họ không bao giờ lãng quên những đồng chí, đồng đội đã hy sinh.
Họ tự nhủ phải sống thay phần đồng đội. Mỗi số phận, cuộc đời đồng đội đã hy sinh như được chồng lên, nhân lên bởi những người đã nằm lại.
Hạnh phúc trong hòa bình vì thế cũng nhân lên. Và cả nỗi đau trước những số phận, danh tính còn bỏ ngỏ cũng nhân lên, thôi thúc những người còn sống lặng lẽ đi tìm từng cái tên, từng mảnh tư liệu, từng dấu vết của đồng đội.
Không chỉ được nhắc đến trong các hồi ký của những người trực tiếp tham chiến, trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ còn xuất hiện dày đặc trong các tài liệu giải mật, sách nghiên cứu và bài viết của giới học giả, nhà báo phương Tây như một dấu mốc mang ý nghĩa vượt xa quy mô của một trận đánh.
Nhiều ý kiến nhận định biệt động đánh “Tòa Nhà Trắng ở phương Đông” mà chấn động cả Tòa Nhà Trắng ở phương Tây.
Giáo sư sử học Mỹ Larry Berman từng nhận định: “Tháng 1/1968, có hơn nửa triệu lính Mỹ cùng khoảng một triệu quân Việt Nam Cộng hòa, nhưng Sài Gòn vẫn không được bảo vệ. Người dân Mỹ nhìn thấy hình ảnh Tòa Đại sứ Mỹ chìm trong lửa đạn ngay trên màn hình tivi và bắt đầu đặt câu hỏi: Nếu chúng ta đang thắng, tại sao điều này vẫn xảy ra? Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã làm lộ ra rằng toàn bộ cuộc chiến được xây dựng trên cơ sở của một lời dối trá”.
Chia sẻ thêm với phóng viên Dân trí, ông Hồ Duy Hùng cho biết, việc tìm lại tên tuổi của Út Nhỏ cũng phản ánh những khó khăn chung trong hành trình xác minh hàng chục chiến sĩ biệt động, quân báo đã hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.
Sau ngày đất nước thống nhất, các lực lượng biệt động, đặc công và quân báo nội thành được tổ chức, biên chế lại vào các đơn vị chính quy của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhiều cán bộ tiếp tục làm nhiệm vụ mới, một số chuyển ngành, phục viên hoặc trở về quê.
Đặc thù hoạt động bí mật trong thời chiến khiến việc lưu giữ hồ sơ, tài liệu của đơn vị rất hạn chế. Nhiều cán bộ lãnh đạo chỉ nắm thông tin ở từng giai đoạn, trong khi nhiều nhân chứng quan trọng lần lượt qua đời.
Sau chiến tranh, lực lượng phân tán khắp cả nước, điều kiện đi lại, kinh phí và công tác sưu tầm tư liệu đều gặp nhiều trở ngại. Vì vậy, việc xác minh nhân thân, quá trình hoạt động, những chiến công cũng như sự hy sinh của nhiều cán bộ, chiến sĩ kéo dài qua nhiều thập kỷ.
