Cho đến tận hôm nay, trong tâm trí bà Bích Nga – cựu xạ thủ biệt động Sài Gòn ngày ấy – ký ức về những ngày trước Tết Mậu Thân 1968 ở vùng ven Củ Chi vẫn còn sống động như mới hôm qua.
Những đoàn quân nối dài dưới tán rừng cao su. Những gương mặt vẫn còn rất trẻ ngồi bên nhau, mang theo lời hẹn “gặp nhau ở Sài Gòn”.
Nhưng sau mùa xuân năm ấy, có người trở về, có người nằm lại. Người có tên trên bia mộ, có những người, sau gần 6 thập kỷ vẫn chưa được tìm thấy, thân xác hòa vào đất thiêng của quê hương, Tổ quốc.
Mỗi lần nhớ lại những gương mặt sáng bừng, sát vai nhau trước ngày bước vào trận đánh lịch sử, bà Bích Nga vẫn đau đáu niềm thương xót. Ai còn, ai mất. Anh em, đồng đội đã mãi mãi nằm lại mà như vẫn còn đây.
Bà Bích Nga sinh năm 1951 tại Quảng Ngãi. Năm 1963, bà Nga vào TPHCM làm giúp việc cho một gia đình rồi tham gia khóa học ở trường quân sự T44 (nay là trường quân sự Quân Khu 7) và trở thành chiến sĩ pháo kích của Biệt động Sài Gòn – Gia Định.
Bà tham gia nhiều trận đánh lớn, tấn công vào các cơ quan đầu não của địch; trong đó nổi tiếng với trận đánh dùng pháo cối 82 ly pháo kích vào sở chỉ huy của tướng Westmoreland năm 1967.
Ở tuổi 75, bên cạnh công việc tại CLB Truyền thống Kháng chiến Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn – Gia Định, bà Nga còn tích cực tham gia công tác ở địa phương, các hội cựu chiến binh, cựu tù binh TPHCM.
Ký ức đó cũng là động lực để vị chủ nhiệm CLB Truyền thống Kháng chiến Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn – Gia Định kiên trì đi tìm tên tuổi và thân nhân cho những chiến sĩ biệt động không danh phận năm xưa.
“58 năm trôi qua, điều chúng tôi mong nhất bây giờ là tìm được hài cốt, xác định thêm thân nhân, danh tính của các anh, để các anh được trở về gia đình”, bà Nga nói.
Bà Bích Nga là chủ nhiệm CLB Truyền thống Kháng chiến Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn – Gia Định (Ảnh: Bích Phương).
“Anh em hẹn gặp nhau ở Sài Gòn nhưng cuối cùng số phận cho tôi được sống”
Trong căn nhà ở đường Hưng Phú (phường Chánh Hưng, TPHCM), bà Bích Nga trầm ngâm nhìn những tập hồ sơ. Trên những trang giấy là danh sách cán bộ, chiến sĩ lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định đã chiến đấu và hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Những ngày này, người phụ nữ tuổi 75 bận rộn với những cuộc điện thoại, những buổi trao đổi cùng Bộ Tư lệnh TPHCM để hỗ trợ việc cung cấp thông tin cho quá trình tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng.
Trên tập hồ sơ là những cái tên, những bí danh ngắn gọn mà thân thương: Chín, Sáu, Quốc, Châu, Viễn, Ngọc… Kèm theo đó chỉ là vài dòng ghi chú ngắn ngủi “chỉ huy trưởng”, “chiến đấu viên”, “hy sinh tại trận”, “địch bắn chết”, “tên giả”, “tên thật không rõ họ”… Mỗi dòng chữ đọc lên đều khiến bà Nga xót xa khôn nguôi.

Bà Bích Nga thời trẻ (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Ký ức của bà Nga quay về vùng giải phóng Củ Chi những ngày cuối năm 1967. Từ tháng 10/1967, các đơn vị đã được triệu tập để chuẩn bị về tư tưởng, huấn luyện chiến thuật theo phương án tác chiến dự kiến, đồng thời khẩn trương xác minh mục tiêu, xây dựng kế hoạch chiến đấu, rà soát hầm bí mật, bổ sung vũ khí và tổ chức mạng lưới liên lạc trong nội đô.
Càng gần Tết âm lịch, không khí càng vui tươi, phấn khởi. “Tôi chưa bao giờ thấy bộ đội, xe pháo đông như vậy. Cả một rừng cao su toàn các tiểu đoàn, đơn vị bộ đội đổ về”, bà Nga nhớ lại.
Trong dòng người ấy có những tiểu đoàn bộ đội chủ lực từ khắp các chiến trường hành quân về cửa ngõ Sài Gòn, có những chiến sĩ biệt động thành chuẩn bị trở lại nội đô theo những mục tiêu riêng. Tuổi trẻ hừng hực khí thế, ai cũng sẵn sàng để bước vào chiến dịch lớn. “Cứ lướt qua nhau là chúng tôi lại nói, hẹn gặp lại ở Sài Gòn nhé”, người cựu chiến sĩ biệt động rưng rưng kể lại.
Nhiều chiến sĩ lên đường chỉ mang theo những vật dụng thật nhẹ để tiện chiến đấu, thậm chí có người bỏ lại cả ba lô, tư trang dọc đường hành quân. “Ai cũng xác định hành trang gọn nhất có thể để vào trận. Tinh thần lúc đó là sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh để giải phóng đất nước”, bà Nga ngừng một lúc rồi kể tiếp.
Là cán bộ chiến sĩ thuộc lực lượng biệt động thành thuộc Quân khu Sài Gòn – Gia Định, bà Nga cũng được huấn luyện trên sa bàn và sẵn sàng để tham gia trận đánh vào mục tiêu Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Nhưng chỉ khoảng một tuần trước đêm 30 Tết, bà Nga – khi đó mới 17 tuổi, bí danh “Thủy đen” – bất ngờ bị sốt rét nặng. Tổ chức quyết định giữ bà ở lại điều trị.
“Tôi buồn lắm vì không được đi chiến đấu. Xung quanh tôi, ai cũng xung phong ra trận. Đơn vị tôi, ai cũng muốn đi. Các anh em biết là đi có thể hy sinh nhưng không ai chịu ở nhà”, bà nói.
Bà kể, trong đơn vị có một anh nuôi chuyên lo công tác hậu cần, gần như không biết sử dụng súng đạn. Vậy mà khi đơn vị lên đường, anh vẫn nhất quyết xin được đi cùng đồng đội ra trận và rồi cũng hy sinh. “Ngày đó tôi ở cùng rất nhiều người, nhưng sau trận đánh chỉ còn vài người trở về”, bà chia sẻ.
Người phụ nữ im lặng vài giây rồi khẽ nói: “Tôi thương các anh em, điều kiện chiến đấu vô cùng khó khăn nhưng anh em vẫn chiến đấu đến viên đạn cuối cùng với tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Chúng tôi hẹn gặp lại ở Sài Gòn, nhưng cuối cùng không gặp được nhau. Có lẽ số phận đã cho tôi được sống…”, bà Nga kể, ánh mắt vẫn dừng lại ở tập hồ sơ trước mặt.
“Chúng tôi luôn mang trong mình món nợ với đồng đội”
Cuộc hẹn mùa xuân năm ấy cuối cùng có nhiều người lỡ hẹn. Trong hai đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, 105 chiến sĩ biệt động thành tham gia chiến đấu thì có tới 61 người anh dũng hy sinh, ngã xuống giữa lòng Sài Gòn.
Không tham gia được đợt 1 vì cơn sốt rét bất ngờ, bà Nga tiếp tục trở lại nhiệm vụ trong đợt 2 của cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân.
Lần này, nữ chiến sĩ được giao nhiệm vụ vận chuyển khẩu cối 60 ly phục vụ kế hoạch pháo kích vào Dinh Độc Lập. Nhưng trên đường làm nhiệm vụ tại Bình Chánh, bà bị địch bắt.
Kể từ đó là chuỗi ngày đọ sức về ý chí với kẻ thù trong những nhà giam khét tiếng từ Bình Chánh, Gia Định, Thủ Đức, khám Chí Hòa, trại giam Tân Hiệp cho đến Côn Đảo. Gần 7 năm trong tù với bao trận đòn tra tấn, những ngày bị bỏ đói, bị cùm chân trong xà lim tối không thể khuất phục được ý chí của nữ biệt động trẻ.
“Có lúc tưởng mình không thể sống nổi nữa, nhưng trong đầu chỉ có một suy nghĩ: Đất nước nhất định sẽ thống nhất, còn mình có sống đến ngày đó hay không cũng không còn quan trọng”, bà nhớ lại.

Bà Bích Nga (thứ hai từ phải sang) cùng những cựu tù được tàu hải quân đưa về đất liền sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Trưa 30/4/1975, tin chiến thắng đến với bà Nga qua chiếc radio phát đâu đó trong trại giam: “Chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện…”.
Những phút đầu tiên, hàng trăm người tù chính trị trong trại giam chỉ biết lặng đi. Niềm vui nghẹn lại trong lồng ngực nhưng không ai dám reo lên. Sau những năm tháng tù đày, họ sợ rằng đó chỉ là một sự nhầm lẫn hay một cái bẫy khác của kẻ thù. Chỉ đến khi tiếng hò reo dội lên từ khắp các khu trại, khi cả Côn Đảo như bừng tỉnh trong niềm vui giải phóng, bà Nga mới dám tin rằng đất nước đã thực sự bước sang thời khắc hòa bình.
Những ngày sau, rời khỏi cổng trại để lên chuyến tàu trở về đất liền, bà Nga bật khóc. Khóc vì số phận bà dẫu sao vẫn may mắn được sống để chứng kiến ngày đất nước thống nhất.
Bà cũng khóc cho những anh em đồng đội, những chiến sĩ đã nằm lại, những người không thể sống đến ngày chiến thắng mà đã hy sinh xương máu, góp phần làm nên.

Bà Nga cùng các thành viên CLB Truyền thống Kháng chiến Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn – Gia Định chụp hình tại bia tưởng niệm biệt động số 108, đường Nguyễn Du (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Sau ngày đất nước thống nhất, lực lượng Biệt động Sài Gòn hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Những người còn sống trở về với đời thường, người tiếp tục công tác tại các cơ quan dân sự, người trở về địa phương, người bắt đầu một cuộc sống mới sau chiến tranh.
Bà Bích Nga được phân công công tác tại Công ty Vật tư Tổng hợp thuộc UBND TPHCM. Nhưng những năm tháng tù đày và tra tấn đã để lại những di chứng nặng nề trên cơ thể người nữ biệt động năm nào. Năm 1993, bà nghỉ hưu ở tuổi 42 vì lý do sức khỏe. Đến nay, bà vẫn đều đặn đi khám định kỳ hàng tháng để điều trị bệnh và theo dõi những vết thương cũ do đòn roi trong nhà tù để lại.
“Nhưng với những người được ở lại sau chiến tranh như tôi, vết thương hay đau bệnh của bản thân chẳng đáng gì so với nỗi day dứt khi nghĩ về đồng đội”, người phụ nữ 75 tuổi bùi ngùi nói.
Với bà Nga và nhiều cựu chiến sĩ Biệt động Sài Gòn, hành trình dường như chưa bao giờ thực sự khép lại. Những người còn sống luôn thấy họ mang trong mình một món nợ với đồng đội đã nằm xuống, một sự thôi thúc phải làm điều gì đó để tri ân, để tưởng nhớ và để những người đã ngã xuống không bị lãng quên.
Năm 1983, CLB Truyền thống Kháng chiến Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn – Gia Định được thành lập, trở thành mái nhà chung của những người từng vào sinh ra tử giữa lòng đô thị năm nào. Sau hơn 40 năm, CLB đã phát triển với 20 ban liên lạc và hơn 1.750 hội viên.
Từ năm 2025, bà Bích Nga được CLB Truyền thống Kháng chiến TPHCM (trực thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM) giao đảm nhận vai trò chủ nhiệm CLB, thay thế cho Đại tá Trần Đức Thơ (chủ nhiệm CLB trong 10 năm từ 2014 đến 2024) khi ông qua đời.
“CLB được thành lập với 2 mục đích: Giải quyết chế độ cho cán bộ chiến sĩ; duy trì nhiều hoạt động nghĩa tình như vận động xây dựng hàng trăm căn nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đồng đội; chăm lo gia đình thương binh, gia đình chính sách và hội viên có hoàn cảnh khó khăn, tuyên truyền giáo dục cho thế hệ trẻ.
Với chúng tôi, những người lính biệt động năm xưa, vẫn còn một nhiệm vụ khác được xem như mệnh lệnh từ trái tim: Tìm lại tên tuổi, thân nhân và nơi yên nghỉ của những đồng đội đã nằm xuống”, bà Bích Nga chia sẻ.
Đồng đội của bà Nga ngã xuống ở những con đường, góc phố giữa lòng Sài Gòn, chứ không phải giữa núi cao hay rừng sâu. Vậy nhưng gần 60 năm trôi qua, hành trình tìm lại danh tính, hài cốt để đưa các anh trở về với gia đình vẫn là một cuộc kiếm tìm đầy gian nan…
Hành trình đi tìm những đồng đội “lỡ hẹn tại Sài Gòn”
Nhiều năm qua, những cựu chiến binh tóc đã bạc trắng, thân già bệnh tật, vẫn miệt mài lần theo từng ký ức, từng nhân chứng, từng mẩu thông tin ít ỏi để kiến nghị lập hồ sơ liệt sỹ, tìm kiếm thân nhân và đưa đồng đội trở về với gia đình.
“Sau ngày giải phóng, 12 trường hợp của lực lượng biệt động thành được công nhận liệt sỹ. Những người còn lại, do không có thông tin về họ tên thật, quê quán, nơi an táng, cũng không có giấy tờ, tài liệu ghi nhận trường hợp hy sinh, nên suốt nhiều năm chưa được công nhận liệt sỹ. Nghĩ đến anh em mà lòng tôi thắt lại”, bà Nga tâm sự.

Bà Bích Nga luôn đau đáu khi nghĩ về hành trình tưởng nhớ, tri ân đồng đội (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Các thành viên ban chủ nhiệm CLB vẫn kiên trì lần theo từng manh mối nhỏ nhất, tìm về địa phương, gặp lại nhân chứng cũ, dò hỏi từng mối quan hệ, đối chiếu từng ký ức còn sót lại sau chiến tranh.
“Từ đầu thập niên 2000, câu lạc bộ chúng tôi bắt đầu hành trình xác minh thân nhân cho đồng đội. Chúng tôi đi khắp địa phương, hỏi từng cái tên. Muốn tìm nhưng không biết đường nào để tìm, vì Biệt động Sài Gòn vốn là một lực lượng đặc biệt, mang nhiều thân phận và nghề nghiệp khác nhau: Công nhân, học sinh, tiểu thương, tài xế, người bán hàng…
Nhưng cũng chính vì sự đặc biệt ấy mà sau mỗi trận đánh, nhiều dấu vết gần như bị xóa sạch. Anh em không khai họ tên, không khai quê quán, không khai năm sinh.
Nhiều người ra đi mà cha mẹ ở nhà cũng không biết con mình làm gì. Có gia đình chỉ biết con tham gia kháng chiến, chứ không biết ở đơn vị nào, chiến đấu ở đâu, hy sinh lúc nào. Biết là khó khăn vô cùng, nhưng trách nhiệm của mình là phải đi tìm”, bà Nga nói.


Từ những kiến nghị kiên trì của câu lạc bộ, câu chuyện vinh danh các chiến sĩ biệt động nhận được sự quan tâm đặc biệt của cơ quan chức năng (Ảnh: Bích Phương).
Không chỉ là nỗi lòng của bà Bích Nga, tâm tư đó còn đè nặng rất nhiều người cựu chiến sĩ biệt động, là tâm nguyện theo họ đến cuối đời. Như cố Đại tá Trần Đức Thơ (Mười Thơ), cố Đại tá Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu), trong những năm đau bệnh, các ông vẫn đau đáu hỏi thăm về việc tìm kiếm đồng đội, miệt mài làm nhân chứng lịch sử để xác nhận thân phận cho những hồ sơ liệt sỹ còn dang dở, về những cái tên chưa tìm được thân nhân.
Đến nay, sau hàng chục năm, mới chỉ có vài trường hợp chiến sĩ biệt động xác minh được thân nhân. Theo quy định, để được công nhận liệt sỹ và cấp bằng Tổ quốc ghi công, cần phải xác minh được họ tên thật, năm sinh và quê quán, nhiệm vụ cụ thể. Trong khi đó, nhiều chiến sĩ biệt động khi hy sinh mang thân phận của người “vô danh”.
“Đảng, Nhà nước luôn quan tâm công tác đền ơn đáp nghĩa. Nhưng vì tính chất đặc biệt của biệt động, để hoàn thiện đầy đủ hồ sơ là rất khó. Trong đơn kiến nghị gửi Sở Nội vụ TPHCM ngày 19/12/2025, tôi nhấn mạnh, lần xác minh cuối cùng để làm hồ sơ liệt sỹ cho 49 đồng đội, chúng tôi chỉ tìm được thân nhân chiến sĩ Út Nhỏ (tên thật Bùi Văn Ráng), còn 48 trường hợp còn lại là không thể xác minh.
Sở Nội vụ đã hỗ trợ chúng tôi, trình lên TPHCM. Cuối cùng, UBND TPHCM tham mưu đến Bộ Nội vụ và thành quả là Chính phủ công nhận 49 chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh năm 1968 là liệt sỹ, cấp bằng Tổ quốc ghi công theo Nghị quyết ban hành ngày 30/1″, bà Nga chia sẻ.

Thiếu tướng Vũ Văn Điền, Tư lệnh Bộ Tư lệnh TPHCM, xúc động trước hương linh các liệt sỹ biệt động Sài Gòn tại lễ khánh thành bia tưởng niệm hôm 4/1 (Ảnh: Ngọc Tân).
Cùng với việc đi tìm tên tuổi, danh tính cho đồng đội, những người lính biệt động năm xưa còn mang theo một tâm nguyện khác: Xây dựng bia tưởng niệm cho những người đã ngã xuống. Anh em, đồng đội nằm lại chiến trường xưa cần một nơi để được gọi tên, để người thân, để thế hệ sau có thể thắp một nén hương tưởng nhớ.
Đến nay, những tâm nguyện ấy đã dần thành hiện thực. Những bia tưởng niệm đã lần lượt hiện diện tại các mục tiêu năm xưa, như Đài Phát thanh Sài Gòn (nay là Đài tiếng nói nhân dân TPHCM), khu vực Tòa Đại sứ Mỹ và Dinh Độc Lập. Hai công trình tưởng niệm khác tại khu vực Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn và Bộ Tư lệnh Hải quân – cũng đang được triển khai xây dựng.
Ngày 4/1, bia tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Biệt động Sài Gòn – Gia Định tại Nghĩa trang Liệt sĩ TPHCM cũng chính thức được khánh thành. Đứng trước tấm bia khắc danh sách 61 cán bộ, chiến sĩ biệt động đã hy sinh tại các mục tiêu trọng điểm trong sự kiện Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968; bà Nga rơm rớm nước mắt, cuối cùng, những người đồng đội năm xưa đã có một nơi để trở về giữa lòng thành phố.

Tâm huyết của bà Nga cũng như các thành viên câu lạc bộ đã dần trở thành hiện thực (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Những ngày gần đây, cứ mỗi buổi chiều, bà Nga lại mở điện thoại theo dõi thông tin mới từ cuộc tìm kiếm, quy tập hài cốt tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng.
Mỗi lần nhìn những di vật được đưa lên từ lòng đất sau gần 6 thập kỷ – một chiếc lược, một mảnh vải đã úa màu, một đôi dép, những vật dụng nhỏ bé còn sót lại của một đời người – ký ức trong bà lại quay về những ngày đầu xuân năm 1968.
Bà nhớ những chiến sĩ Tiểu đoàn Phú Lợi từ miền Tây hành quân về Sài Gòn trước Tết. “Cả tiểu đoàn toàn những gương mặt trẻ măng. Mấy ngày sau tôi nghe tin các em hy sinh gần hết…”, bà nghẹn giọng.
Bà cũng nhớ những chiến sĩ biệt động năm ấy, trong những bộ quần áo đẹp nhất ngày Tết, hóa trang thành người đi chơi xuân, đi lễ chùa, đi thăm người thân để hòa vào dòng người giữa Sài Gòn. Chỉ những người trong cuộc mới nhận ra nhau bằng ánh mắt hay một ám hiệu bí mật.
Rồi nhiều người đã không bao giờ trở về.
“Mấy hôm nay, tôi chỉ dẫn gia đình liệt sỹ Út Dự, liệt sỹ Năm… đến Công viên Lê Thị Riêng để làm quy trình lấy mẫu thử ADN. Điều tôi mong mỏi là có thêm nhiều thân nhân tìm đến, có thêm nhiều gia đình nhận ra cha ông họ là biệt động, mong tìm được hài cốt để đưa các anh về với gia đình”, bà Nga khẽ nói.
Người phụ nữ 75 tuổi hiểu rằng hành trình ấy có thể còn rất dài. Nhưng, lời hẹn “gặp nhau ở Sài Gòn” năm nào sẽ chỉ thực sự trọn vẹn khi những người đã ngã xuống được gọi đúng tên mình và trở về trong vòng tay của gia đình, đồng đội.
